NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN Đề Tài - Dự Án

Sự cần thiết bảo tồn và phát triển làng nghề tại thành phố Hồ Chí Minh

SỰ CẦN THIẾT BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Làng nghề (LN) ở thành phố Hồ Chí Minh rất đa dạng, phong phú và chiếm một vị trí quan trọng. Các cơ sở sản xuất ở LN có vốn đầu tư không lớn nhưng giá trị làm ra không nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh. Cơ sở hạ tầng LN không đòi hỏi cao như các ngành công nghiệp hiện đại, các khu công nghiệp tập trung. Những nơi không thuận lợi trong việc phát triển công nghiệp quy mô lớn thì có thể phát triển tiểu thủ công nghiệp nông thôn, từ đó hình thành thành các làng nghề nông thôn. Trong thời gian qua, hoạt động của làng nghề nông thôn thành phố đã có nhiều đóng góp tích cực đối với việc phát triển kinh tế-xã hội của thành phố nói riêng và cả nước nói chung, cụ thể: 
1. Bảo tồn và phát triển làng nghề góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo
Trải qua hơn 20 năm đổi mới, ngành nghề và làng nghề nông thôn giữ vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển nông thôn Việt Nam nói chung và nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Trong đó, vai trò quan trọng nhất của ngành nghề và làng nghề nông thôn là tạo việc làm đa dạng cho nông dân ngoài thời vụ. Trung bình mỗi hộ làm nghề phi nông nghiệp có thể thu hút từ 2-5 lao động, còn mỗi cơ sở làm nghề phi nông nghiệp thu hút 8-10 lao động thời vụ. Nhiều hoạt động dịch vụ liên quan đã phát triển theo và thu hút nhiều lao động vào  làm việc. Thu nhập của người lao động tham gia vào nghề phi nông nghiệp thường cao gấp 2-3 lần so với lao động nông nghiệp. Bên cạnh tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động ở khu vực nông thôn, phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghềcòn tạo thêm nhiều việc làm cho lao động lúc nông nhànnhư người già, trẻ em, khuyết tật,...
Cơ cấu lao động nông thôn ngoại thành trong thời gian qua có sự chuyển dịch khá nhanh sang các ngành công nghiệp và dịch vụ. Năm 1998, dân số ở các huyện ngoại thành sống bằng nghề nông là 480.082 lao động (chiếm tỷ lệ 56,3% dân số nông thôn); đến năm 2009, dân số ở các huyện ngoại thành sống bằng nghề nông là 251.454 lao động (Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh) và đến năm 2010 là 201.106 lao động (nguồn: Chi cục Phát triển nông thôn – đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong lĩnh vực nông nghiệp và ngành nghề nông thôn tại các xã xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”). Như vậy, sau hơn 10 năm đã có 51,11% lao động nông nghiệp (tương ứng khoảng 279.000 lao động) chuyển đổi nghề nghiệp từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, với nhiều ngành nghề hoạt động khác nhau. Bình quân một hộ có nghề tạo việc làm ổn định cho 4,2 người, một cơ sở ngành nghề tạo việc làm ổn định cho trên 12 người. Chỉ riêng làng nghề bánh tránh tại xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi đã có 400 hộ, với hơn 1.200 lao động; làng nghề phát triển còn kéo theo nhiều ngành nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan phát triển,... tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo.
2. Bảo tồn và phát triển làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn thành phố, đa dạng hóa kinh tế nông thôn thúc đẩy quá trình đô thị hóa
Bảo tồn và phát triển làng nghề có tác dụng rõ rệt đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự phát triển lan tỏa của các ngành nghề, làng nghề đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động. Theo số liệu điều tra của Chi cục Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh năm 2011, 2012 thì ở nhiều làng nghề (như nuôi và chế biến da cá sấu Thạnh Xuân, đan đát Thái Mỹ, bánh tráng Phú Hòa Đông – huyện Củ Chi…) đã có sự chuyển dịchcơ cấu kinh tế đáng kể, tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày một tăng lên, nông nghiệp từ chiếm tỷ trọng hơn 80% (2000) đã giảm xuống còn # 30-35%.
Tại 4 làng nghề: đan đát Thái Mỹ, bánh tráng Phú Hòa Đông (Củ Chi), muối Lý Nhơn (Cần Giờ) và làng nghề nuôi, chế biến da cá sấu Thạnh Xuân (quận 12) thực hiện mô hình thí điểm (theo Quyết định số 2988/QĐ-UB ngày 04 tháng 8 năm 2003 của Ủy ban nhân dân thành phố) hoạt động ngày một ổn định, giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng ngày một cao. Điển hình là làng nghề bánh tráng Phú Hòa Đông: sản lượng năm 2005 là 20 tấn bánh thành phẩm/ngày, đến năm 2012 đã tăng lên 40 tấn/ngày.
Năm 2004, các LN đã tạo ra giá trị sản xuất là 109,8 tỷ đồng, sản xuất một khối lượng hàng hóa lớn đáp ứng nhu cầu thị trường thành phố và một phần cho xuất khẩu. Thuế trích nộp từ hoạt động của các LN trong năm 2004 là 7,9 tỷ đồng. Chỉ tính riêng làng nghề các sấu quận 12, giá trị sản xuất tăng từ 1,7 tỷ đồng (năm 2002) lên 5 tỷ đồng (năm 2010). Hiện nay, các LN đang phát triển đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. 
Sự phát triển của các nghề truyền thống kéo theo sự phát triển của nhiều nghề khác nhau như thương mại, dịch vụ, vận tải, thông tin liên lạc, cung cấp điện nước và ngược lại, những ngành nghề này lại hỗ trợ trực tiếp cho sự phát triển của các làng nghề. Ở những quận huyện của thành phố có nhiều ngành nghề phát triển (như huyện Củ Chi, Hóc Môn, quận 12, quận Thủ Đức) thường hình thành nên một điểm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hóa, dần dần ở đây đã phát triển thành cụm dân cư với lối sống đô thị ngày một rõ nét hơn, nông thôn đổi thay và từng bước đô thị hoá.
3. Bảo tồn và phát triển làng nghề góp phần bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc
Hầu hết các LN có khởi nguồn từ đặc điểm điều kiện sản xuất (muối Lý Nhơn, đan đát Thái Mỹ) cùng với sự sáng tạo không ngừng của dân cư địa phương, nhằm đáp ứng cho nhu cầu thị trường ngày càng cao, vì vậy trong sản phẩm LN từ kiểu dáng, mẫu mã đều có những dấu ấn riêng về bản sắc văn hoá của từng địa phương. Thị trường cho các sản phẩm làng nghề không còn gói gọn “ao nhà” mà ngày càng được chứng minh qua các thị trường quốc tế như da cá sấu xuất khẩu qua các nước Hà Lan, Đức, Bỉ; đan đát Thái Mỹ xuất khẩu qua các nước Nhật Bản, Singapore, Đài Loan; bánh tráng Phú Hòa Đông có sản phẩm xuất khẩu qua Pháp.
Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống gắn với lịch sử phát triển văn hóa dân tộc. Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao, thể hiện những sắc thái riêng của mỗi làng nghề. Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống chính là sự kế thừa và phát huy đội ngũ nghệ nhân có bàn tay khéo léo cùng những bí quyết nghề quý giá, thông qua đó bảo tồn những nét độc đáo của bản sắc dân tộc Việt Nam nói chung và của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong cộng đồng quốc tế.
Ngoài việc tạo sản phẩm, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, nhiều LN đã hình thành việc liên kết có tính cộng đồng theo từng nhóm LN, duy trì các truyền thống, lễ hội theo nhóm ngành nghề (như tại LN đan đát Thái Mỹ - huyện Củ Chi, làng nghề giỏ trạc Xuân Thới Sơn - huyện Hóc Môn,...). Thông qua việc tạo ra các sản phẩm của LN, cộng đồng dân cư trở nên gắn bó hơn trong cuộc sống, góp phần hạn chế và đẩy lùi những tiêu cực của văn hóa ngoại lai, không lành mạnh.
4. Bảo tồn và phát triển làng nghề góp phần phát triển du lịch, tạo điều kiện học tập và nghiên cứu
Mỗi làng nghề thực sự là một địa chỉ văn hóa, phản ánh nét văn hóa độc đáo của từng địa phương, từng vùng. Làng nghề truyền thống từ lâu đã trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu của văn hóa dân gian. Những giá trị văn hóa chứa đựng trong các làng nghề truyền thống ở thành phố Hồ Chí Minh đã tạo nên những nét riêng độc đáo đa dạng nhưng cũng mang bản sắc chung của văn hóa dân tộc Việt Nam.
Giá trị của làng nghề gắn liền với tiềm năng về du lịch, đây là yếu tố có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển các làng nghề hiện nay. Tại Củ Chi với các địa danh nổi tiếng như Đền Bến Dược, Địa Đạo Củ Chi,... đây là một lợi thế rất lớn cho việc khai thác được giá trị của các sản phẩm làng nghề, sản phẩm của các làng nghề là quà biếu của khách du lịch trong và ngoài nước./.

Giới Thiệu Chi Cục PTNT TP.HCM

Chi cục Phát triển nông thôn

Chi cục Phát triển nông thôn là cơ quan trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, chịu sự chỉ đạo, lãnh đạo trực tiếp của Sở Nông nghiệp và PTNT; đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn của Cục Hợp tác xã và PTNT.

xem tiếp

Liên tịch

Chương Trình Liên Tịch với các Đoàn Thể :Chương trình Liên tịch về tăng cường phối hợp chặt chẽ trong sự nghiệp phát triển nông thôn:

Liên Kết web

Danh sách liên kết với các cơ quan, đơn vị liên quan, cơ quan đối tác trong nước.

GO