NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN Kinh Nghiệm

Khó khăn trong việc công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống tại khu vực ngoại Tp.HCM

 Khó khăn trong việc công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống

 tại khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh
______________
 
Tính đến thời điểm tháng 4/2013, khu vực ngoại thành thành phố hiện có 19 làng nghề hoạt động và phát triển tại 07 quận-huyện, trong đó:
- Quận Gò Vấp: 01 làng nghề (làng nghề dịch vụ chăm sóc, cung ứng hoa kiểng);
- Quận 12: 02 làng nghề (làng nghề cá sấu, hoa cây kiểng);
- Quận Thủ Đức: 01 làng nghề (làng nghề hoa cây kiểng);
- Huyện Củ Chi: 04 làng nghề  (làng nghề bánh tráng, đan đát, mành trúc, sinh vật cảnh);
- Huyện Hóc Môn: 03 làng nghề (làng nghề bánh hủ tiếu, đan đệm, đan giỏ trạc);
- Huyện Bình Chánh: 07 làng nghề (03 làng nghề se nhang; 01 làng nghề hoa lan cây kiểng; 02 làng nghề chổi lông gà; 01 làng nghề làm tăm tre);
- Huyện Cần Giờ: 01 làng nghề (làng nghề muối).
Để hỗ trợ chính quyền địa phương và tổ chức, cá nhân hiện đang tham gia sản xuất tại làng nghề nắm bắt được quy trình thực hiện thủ tục công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống theo quy định của Thông tư số 116/2006/TT- BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, Chi cục Phát triển nông thôn đã tiến hành tổ chức 09 lớp tập huấn hướng dẫn về quy trình thực hiện thủ tục công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống, với 502 lượt người tham dự.
Tuy nhiên, đến nay, Chi cục PTNT vẫn chưa nhận được hồ sơ đăng ký công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống của bất kỳ địa phương nào.
Những làng nghề, làng nghề truyền thống tại TP.HCM dù đã có từ lâu đời nhưng vẫn chưa được công nhận, là do 02 nguyên nhân chính:
-  Thứ 1, chính quyền địa phương và các tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia sản xuất tại làng nghề chưa nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của việc công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống. 
- Thứ 2, theo quy định của Thông tư số 116/2006/TT-BNN, làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí: tiêu chí 01: có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; tiêu chí 02: hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; tiêu chí 03: chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, việc đạt tiêu chí 01 là rất khó thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh, vì: đa số các hộ, cơ sở ngành nghề của thành phố sản xuất phân tán, không tập trung trên cùng một địa bàn.
* Bên cạnh việc chưa được công nhận là làng nghề, làng nghề truyền thống, hiện làng nghề tại khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh còn gặp những khó khăn sau:
- Một là, các cơ sở sản xuất tại các làng nghề gặp khó khăn về thực hiện chính sách về mặt bằng sản xuất, nguồn vốn tín dụng (thủ tục, hạn mức cho vay thấp, yêu cầu phải có tài sản thế chấp,...). Phát triển vẫn mang tính tự phát, sử dụng công nghệ lạc hậu và thiết bị máy móc chậm đổi mới. Trên 80% các cơ sở không đủ vốn đầu tư đổi mới kỹ thuật, mở rộng quy mô sản xuất. Trên 95% các hộ, cơ sở ngành nghề nông thôn đều sử dụng nhà ở làm nơi sản xuất.
- Hai là, khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm: còn tồn tại nhiều khó khăn, đó là sự cạnh tranh của những mặt hàng cùng loại được sản xuất bằng công nghệ hiện đại từ các nước trong khu vực. Ngoài ra sản xuất thiếu ổn định do thiếu nguyên liệu. 
- Ba là, hệ thống mẫu mã, kiểu dáng và bao bì sản phẩm của làng nghề chưa đổi mới: đa số sản phẩm của làng nghề là sản phẩm truyền thống, vẫn sản xuất theo mẫu cũ, ít được cải tiến, sáng tạo mới. Một số làng nghề chỉ chuyên sản xuất theo mẫu đặt hàng có sẵn của khách hàng (như LN đan đát Thái Mỹ). Việc đăng ký thương hiệu, nhãn hiệu và kiểu dáng sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường khi Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) chưa được quan tâm đầu tư, hỗ trợ.
- Bốn là, trình độ quản lý của hộ, cơ sở ngành nghề tại làng nghề chưa cao: 69,4% chủ hộ sản xuất tại LN chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, kiến thức quản lý, trong đó có trình độ cao đẳng, đại học chỉ chiếm tỷ lệ 2,6%. Công tác đào tạo hướng dẫn, truyền nghề chưa được chú trọng đúng mức. 
- Năm là, các HTX, THT làng nghề chưa hiệu động hiệu quả: thành phố hiện có 56 HTX nông nghiệp-ngành nghề nông thôn, có 10/56 HTX sản xuất-kinh doanh liên quan đến lĩnh vực ngành nghề nông thôn (trong đó có 07 HTX chuyên doanh) nhưng chỉ có 02 HTX được đánh giá hoạt động có hiệu quả (HTX bánh tráng xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi) và HTX nuôi và chế biến da cá sấu tại phường Thạnh Xuân, quận 12).
- Sáu là, công tác xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề chưa được chú trọng: các làng nghề với các cơ sở, hộ sản xuất có kỹ thuật sản xuất thủ công, cơ khí lạc hậu và trình độ khoa học công nghệ thấp kém hiện nay chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nhưng chi phí khắc phục là khá tốn kém, làm tăng giá thành và giảm khả năng cạnh tranh của sản xuất. Vì vậy, khó được các chủ hộ sản xuất tại làng nghề chú trọng, tự giác thực hiện. 
Với vai trò, chức năng hỗ trợ phát triển làng nghề của chi cục PTNT , chi cục sẽ tiếp tục triển khai thực hiện các hoạt động hỗ trợ phát triển làng nghề, cụ thể như:
- Tập huấn hướng dẫn các thủ tục, quy trình công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống.
- Tư vấn, hỗ trợ thành lập và đưa vào hoạt động có hiệu quả các HTX làng nghề, tổ ngành nghề.
- Hỗ trợ các tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia sản xuất tại làng nghề tiếp cận được nguồn vốn vay có hỗ trợ lãi suất theo Quyết định số 13/2013/QĐ-UBND ngày 20 tháng 3 năm 2013 của Ủy ban nhân dân thành phố về Quy định khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đô thị trên địa bàn thành phố giai đoạn 2013-2015.
- Hỗ trợ  tìm kiếm, giới thiệu cho các hộ dân làng nghề tiếp cận nguồn cung cấp nguyên vật liệu ổn định, giá thành rẻ nhưng vẫn đảm bảo chất lượng. 
- Vận dụng Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ về khuyến nông nhằm hỗ trợ, nâng cấp hệ thống máy móc, trang thiết bị phục vụ sản xuất của một số cơ sở, tổ ngành nghề, tổ hợp tác, HTX làng nghề, ngành nghề nông thôn, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm của làng nghề, ngành nghề nông thôn.
- Hỗ trợ các tổ chức, hộ dân làng nghề tham quan mô hình sản xuất ngành nghề nông thôn đạt hiệu quả trong và ngoài thành phố.
Ngoài ra, để hỗ trợ phát triển làng nghề, Chi cục PTNT thành phố đã tham mưu Sở NN&PTNT trình UBND thành phố phê duyệt đề án bảo tồn và phát triển làng nghề giai đoạn 2013-2015, định hướng đến năm 2020, theo đó có đề xuất một số chính sách hỗ trợ bảo tồn và phát triển đối với các làng nghề, cụ thể định hướng chính sách hỗ trợ như sau:
- Đối với các làng nghề mang đậm nét văn hóa truyền thống nhưng không có khả năng phát triển độc lập: ngân sách thành phố hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng; các tổ chức, hộ dân, cá nhân đầu tư phát triển sản xuất tại làng nghề và được hưởng chính sách hỗ trợ lãi vay theo chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đô thị của thành phố và các chính sách hỗ trợ khác theo quy định hiện hành.
- Đối với các làng nghề, làng nghề truyền thống có khả năng phát triển độc lập, bền vững: ngân sách thành phố hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng nhưng có thu hồi lại theo quy mô đầu tư của doanh nghiệp, hộ dân, cá nhân tại làng nghề; các doanh nghiệp, hộ dân, cá nhân đầu tư phát triển sản xuất tại làng nghề; các tổ chức, hộ dân, cá nhân đầu tư phát triển sản xuất tại làng nghề sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ lãi vay theo chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đô thị của thành phố./.

Giới Thiệu Chi Cục PTNT TP.HCM

Chi cục Phát triển nông thôn

Chi cục Phát triển nông thôn là cơ quan trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, chịu sự chỉ đạo, lãnh đạo trực tiếp của Sở Nông nghiệp và PTNT; đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn của Cục Hợp tác xã và PTNT.

xem tiếp

Liên tịch

Chương Trình Liên Tịch với các Đoàn Thể :Chương trình Liên tịch về tăng cường phối hợp chặt chẽ trong sự nghiệp phát triển nông thôn:

Liên Kết web

Danh sách liên kết với các cơ quan, đơn vị liên quan, cơ quan đối tác trong nước.

GO