NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN Đề Tài - Dự Án

Những lợi thế so sánh của nghề muối tại thành phố Hồ Chí Minh (huyện Cần Giờ)

Những lợi thế so sánh của nghề muối tại thành phố Hồ Chí Minh (huyện Cần Giờ)

Huyện Cần Giờ thuộc TP.HCM với 23 km chiều dài bờ biển, là huyện duy nhất tại Thành phố sản xuất muối. Nghề muối của huyện được hình thành từ rất lâu. Qua nghiên cứu, phân tích, đánh giá có thể thấy nghề muối tại huyện Cần Giờ có những lợi thế so sánh sau đây:
1. Điều kiện tự nhiên của huyện Cần Giờ thuận lợi cho nghề muối phát triển: điều kiện tự nhiên thích hợp, từ nhiều năm qua nghề muối ở huyện Cần Giờ được hình thành góp phần đa dạng hóa nghành nghề sản xuất ở địa phương, thu hút hàng ngàn lao động làm việc theo thời vụ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho một bộ phận nhân dân tại chỗ. Cụ thể:
Về vị trí địa lý: huyện Cần Giờ có tổng diện tích tự nhiên: 70.421,58 ha, với 23 km chiều dài bờ biển, rất thuận lợi cho việc sản xuất muối.
Về nhiệt độ: nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới xích đạo, gió mùa với mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4. Nhiệt độ trung bình 25,70 C, cao nhất 390 C.Theo kết quả tính toán thì lượng bốc hơi trong thời vụ muối là 722mm và tổng số ngày nắng trong vụ là 188 ngày (06 tháng ); số giờ nắng trong trung bình ngày là 07 giờ (cao nhất là 8,6 giờ và thấp nhất là 5,4 giờ). Số giờ nắng giản dần trong mùa mưa và tăng dần trong mùa khô. Trong mùa khô, tháng 3 là tháng có số giờ nắng nhiều nhất và ngược lại tháng 12 có số giờ nắng ít nhất. Với nhiệt độ nắng nóng của huyện cần giờ từ tháng 11 đến tháng 4 như vậy rất thích hợp cho việc sản xuất muối trong khoảng thời gian này.
Về bức xạ mặt trời: lượng bức xạ mặt trời là yếu tố thuận lợi cho sản xuất muối, lượng bức xạ càng lớn càng có lợi cho sản xuất muối. Lượng bức xạ mặt trời của huyện Cần Giờ khá cao (bình quân đạt 11,75 Kcal/cm2 (đặc biệt Tháng 3 và tháng 4 là 2 tháng có bức xạ cao nhất 113,3-14,2 Kcal/cm2 và cũng trùng với vụ chính của muối. 
Về đất đai: Đất đai khu vực ngoại thành TPHCM được phân ra 6 nhóm đất chính: đất vàng nâu Feralit trên phù sa cổ; đất xám; Đất phù sa; đất phèn và Đất mặn, phèn. Trong đó diện tích đất mặn, phèn có diện tích khoảng 43.400 ha, tập trung chủ yếu ở huyện Cần Giờ đang phát triển rừng phòng hộ, nuôi tôm sú, sản xuất muối.
Về thỗ nhưỡng: thổ nhưỡng tại địa bàn có hai loại nhóm đất chính là đất phèn tiềm tàng nhiễm mặn theo mùa ở độ sâu 40- 80cm và đất phèn ít đã phát triển cũng nằm ở độ sâu từ 40-80 cm. Nhìn chung tầng phèn và tầng sinh phèn đều nằm ở dưới sâu, ít bị ành hưởng đến chất lượng muối sản xuất bên trên. Ngoài ra, tầng mặt có độ dầy từ 15-25cm, ít hữu cơ, giàu sét, thuận lợi cho việc lăn trục nén để tạo độ phẳng và hạn chế thẩm lậu trong quá trình kết tinh muối.
2. Công tác quy hoạch phát triển vùng sản xuất muối trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (huyện Cần Giờ) đã được thực  hiện:  thực hiện Quyết định số 161/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt quy hoạch phát triển sản xuất muối đến năm 2010 và năm 2020. Đồng thời với mục tiêu xác lập cụ thể quỹ đất diêm nghiệp ổn định trên 10 năm phù hợp với điều kiện tự nhiên để phát triển sản xuất muối, cơ sở pháp lư để nghiên cứu triển khai thực hiện các cơ sở hạ tầng và chủ trương chính sách đầu tư hỗ trợ để nâng cao chất lượng, Sở Nông nghiệp và PTNT (Chi cục Phát triển nông thôn) đã phối hợp với các sở ngành có liên quan và UBND huyện Cần Giờ tham mưu, trình UBND thành phố phê duyệt Quyết định số 5765/QĐ-UBND ngày 20/12/2010 về Quy hoạch sản xuất muối trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (huyện Cần Giờ) đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025, với định hướng: quy hoạch sản xuất muối tại TP.HCM (huyện Cần Giờ) đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 là 1.000 ha, trong đó: xã Lý Nhơn: 800 ha và xã Thạnh An: 200 ha. Đến năm 2015 có khoảng 500 ha ruộng muối thực hiện phương pháp kết tinh muối trên ruộng trải bạt. Năm 2020: 100% diện tích muối sản xuất theo phương pháp kết tinh trên ruộng trải bạt, sản lượng 70.000 tấn - 75.000 tấn và sản phẩm sau muối. Năm 2025: tiếp tục nâng cao năng suất, sản lượng trên 80.000 tấn/năm và sản phẩm sau muối.
3. Huyện Cần Giờ có đủ lực lượng lao động tại chỗ và từ các địa phương khác tới, giúp cho nghề muối phát triển tốt. 
Dân số trên địa bàn huyện Cần Giờ có 69.545 người, chiếm 1,02% dân số toàn thành phố, mật độ dân số bình quân 99 người/km2, tỷ lệ tăng tự nhiên 1,195%. 
Tổng số hộ dân tại 04 xã làm muối trên địa bàn huyện Cần Giờ là 8.011 hộ, với 32.674 nhân khẩu (trong đó: xã Long Hòa có 2.698 hộ/11.072 nhân khẩu; thị trấn Cần Thạnh có 2.781 hộ/11.379 nhân khẩu; xã Lý Nhơn có 1.393 hộ/5.573 nhân khẩu; xã Thạnh An có 1.139 hộ/4.650 nhân khẩu).  Tổng số người trong độ tuổi lao động khoảng 15.730 người.
Theo kết quả khảo sát, đề sản xuất 01 ha muối cần 02 lao động, hiện toàn thành phố (huyện Cần Giờ) có 1.516,8ha diện tích đất sản xuất muối, do vậy sẽ cần khoảng 3.032 lao động. Hiện tổng số lao động tham gia sản xuất muối của huyện Cần Giờ là 2.688 lao động, như vậy lao động sản xuất muối của huyện là không thiếu.
4. Công tác đào tạo nguồn nhân lực cho nghề muối đã được chú trọng, thành phố Hồ Chí Minh đã có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, trong đó có lao động thuộc ngành nghề muối: với mục tiêu đến năm 2015, tỷ lệ 70% và đến năm 2020, tỷ lệ 90% lao động nông nghiệp và ngành nghề nông thôn được đào tạo nghề, ngày 18 tháng 4 năm 2012, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định 
số 2041/QĐ-UBND về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong lĩnh vực Nông nghiệp và Ngành nghề nông thôn tại các xã xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh năm 2015, định hướng đến năm 2020”, theo đó quy định hỗ trợ cho các đối tượng tham gia học nghề (trong đó có nghề sản xuất muối) cụ thể như sau: “Đối với các khóa bồi dưỡng, tập huấn từ 7 ngày trở lên (đến tối đa 15 ngày): Lao động nông thôn tham dự các khóa bồi dưỡng, tập huấn ngắn hạn từ 7 ngày trở lên (đến tối đa 15 ngày - dưới trình độ sơ cấp nghề, được cấp chứng chỉ học nghề) được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn 50.000 đồng/người/buổi (gồm cả tiền ăn, tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng), với mức tối đa 01 triệu đồng/người/khóa học”. Trong niên vụ muối năm 2012, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Chi cục Phát triển nông thôn) đã phối hợp với Trung tâm Dạy nghề huyện Cần Giờ tổ chức 13 lớp đào tạo về kỹ thuật sản xuất muối theo phương pháp kết tinh trên nền ruộng trải bạt, với 260 lượt người tham dự (bình quân 20 người/lớp). Sau khóa đào tạo, học viên đã được cấp giấy chứng nhận. Đồng thời, xác định thực hiện cơ giới hóa sẽ góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất muối, trong niên vụ muối năm 2012, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Chi cục Phát triển nông thôn) đã tiến hành hỗ trợ 15 máy quạt nước cho 15 hộ xã viên (đây là những hộ xã viên mới được kết nạp) của HTX muối Tiến Thành thuộc làng nghề muối Lý Nhơn, huyện Cần Giờ.
5. Hệ thống cơ sở hạ tầng vùng sản xuất muối của thành phố Hồ Chí Minh (huyện Cần Giờ) ngày càng hoàn thiện: theo quy hoạch sản xuất muối tại thành phố Hồ Chí Minh (đã được UBND thành phố phê duyệt tại Quyết định số 5765/QĐ-UBND ngày 20/12/2010), đến năm 2025, huyện Cần Giờ được quy hoạch 1.000 ha sản xuất, tập trung tại xã Lý Nhơn là 800 ha và xã Thạnh An là 200 ha. 
Đối với xã Lý Nhơn: xã Lý Nhơn là 01 trong 06 xã được thành phố chọn thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới, trước khi xây dựng nông thôn mới, xã Lý Nhơn là một xã vùng sâu vùng xa của thành phố, cơ sở hạ tầng giao thông phục vụ phát triển kinh tế (trong đó có phát triển diêm nghiệp) chưa được đầu tư, đặc biệt đường giao thông chủ yếu là đường cấp phối sỏi đỏ hoặc đất đen. Qua 03 năm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới (bắt đầu từ năm 2010), trên địa bàn xã Lý Nhơn đã có 24/25 tuyến đường giao thông, với tổng chiều dài 64.598 m được đưa vào thi công, góp phần hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn xã nói chung và vùng sản xuất muối nói riêng.
Đối với xã Thạnh An, hiện đã có 70 ha diện tích sản xuất muối được đầu tư cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, được xem là cơ sở để phát triển nghề muối đặc biệt là muối trải bải trong thời gian tới). Ngày 01 tháng 02 năm 2013, Sở Nông nghiệp và PTNT đã chủ trì, phối hợp với các sở ngành chức năng, UBND huyện Cần Giờ và UBND xã Thạnh An họp bàn, thống nhất đề nghị Ủy ban nhân dân xã Thạnh An chủ động xây dựng Dự án phát triển 200 ha muối trải bạt (Thông báo số 27/TB-SNN-VP ngày 07 tháng 02 năm 2013). Căn cứ Dự án phát triển 200 ha muối trải bạt của Ủy ban nhân dân xã Thạnh An, đề nghị Hợp tác xã muối Thiềng Liềng xây dựng Dự án phát triển 70 ha muối trải bạt (đối với 70 ha ruộng muối đã được đầu tư cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh), theo đó, phân kỳ triển khai thực hiện cho từng năm.
6. Thành phố đã có chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất diêm nghiệp: trong giai đoạn 2011-2015, phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp bình quân đạt trên 6%/năm, đồng thời tiếp tục tạo động lực cho sản xuất nông nghiệp, trong đó có diêm nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, ổn định, bền vững, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tham mưu, trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt và ban hành Quyết định số 36/2011/QĐ-UBND ngày 10 tháng 6 năm 2011 và được thay thế, điều chỉnh bằng Quyết định số 13/2013/QĐ-UBND ngày 20 tháng 3 năm 2013 về việc Ban hành Quy định về khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp độ thị trên địa bàn thành phố giai đoạn 2013-2015, theo đó: Tổ chức, cá nhân vay vốn đầu tư phát triển diêm nghiệp sẽ được ngân sách thành phố hỗ trợ 60-100% lãi suất (tùy từng nội dung đầu tư). Sau hơn 01 năm thực hiện Quyết định số 36/2011/QĐ-UBND đã có 7.813 hộ dân, doanh nghiệp (trong đó có khoảng 10,4% là đối tượng vay vốn phát triển ngành nghề nông thôn) tiếp cận nguồn vốn vay có hỗ trợ lãi vay, với tổng vốn đầu tư 3.170 tỷ đồng, tổng vốn vay có hỗ trợ lãi suất là 1.814 tỷ đồng (vốn hỗ trợ lãi vay của ngân sách thành phố đã giải ngân khoảng 43,2 tỷ đồng). Trong đó vay vốn đề phát triển sản xuất diêm nghiệp có:
- Số hộ vay: 454 hộ.
- Tổng vốn đầu tư: 48,225 tỷ đồng. 
- Tổng vốn vay có hỗ trợ lãi vay: 28,944 tỷ đồng.
7. Việt Nam đã xây dựng được hệ thống văn bản quản lý nhà nước cho ngành nuối từ Quyết định của Thủ tướng và hệ thống văn bản cấp Bộ, góp phần hỗ trợ phát triển nghề muối tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh (huyện Cần Giờ) nói riêng, cụ thể như: 
- Quyết định số 161/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt quy hoạch phát triển sản xuất muối đến năm 2010 và năm 2020
- Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về sản xuất và cung ứng muối iot cho người ăn;
- Quyết định số 1218/1997/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về sản xuất, kinh doanh muối cho Bộ Nông nghiệp và PTNT.
- Quyết định số 153/1999/QĐ-TTg ngày ngày 15 tháng 7 năm 1999 của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách phát triển muối.
- Quyết định số 161/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của Thủ tướng chính phủ về việc duyệt quy hoạch phát triển sản xuất muối 2010-2020.
- Quyết định số 75/2003/QĐ-BNN ngày 14 tháng 7 năm 2003 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành tiêu chuẩn ngành muối.
- Quyết định số 2227/QĐ-BNN-CB ngày 26 tháng 9 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về phê duyệt đề án thu mua muối và sản xuất, cung ứng muối Iốt.
- Định kỳ hàng năm, Bộ Nông nghiệp và PTNT đều có văn bản chỉ đạo các tỉnh thành có sản xuất muối triển khai thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất muối, cụ thể năm 2011: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có Công văn số 4007/BNN-CB ngày 02 tháng 12 năm 2010, năm 2012: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có Công văn số 468/BNN-CB ngày 29 tháng 02 năm 2012 về việc chỉ đạo sản xuất muối niên vụ 2012, để sản xuất muối trong niên vụ năm 2012 đạt hiệu quả; năm 2013: Bộ Nông nghiệp và PTNT có Công văn số 4460/BNN-CB ngày 28 tháng 12 năm 2013.
8. Việc thực hiện và nhân rộng mô hình sản xuất muối sạch theo phương pháp kết tinh trên ruộng trãi bạt đã mở ra một hướng phát triển mới cho nghề muối tại thành phố: phương pháp sản xuất muối sạch trên bạt (PE hoặc PVC), ở phương pháp này tuy chi phí sản xuất có cao hơn (gần 50% - do thêm chi phí bạt nhựa - sử dụng khoảng 4 năm và một số dụng cụ), nhưng chất lượng muối trải bạt vượt trội so với chất lượng muối thô sản xuất theo phương pháp truyền thống: muối có độ trắng cao, sạch hơn và có độ mặn nhiều hơn, thể hiện qua chỉ tiêu tạp chất không tan hết sức nhỏ, và hàm lượng NaCl cao hơn. Năng suất tăng hơn từ 1,7 lần – tùy điều kiện thời tiết và kỹ thuật thực hiện. Giá bán cao hơn 20% so với phương pháp sản xuất truyền thống. Phương pháp sản xuất muối sạch trên bạt đã được triển khai thử nghiệm tại huyện Cần Giờ vào năm 2007, với hiệu quả tích cực đem lại từ mô hình, hiện nay toàn huyện Cần Giờ đã có 390/1.516,8 ha, tập trung chủ yếu tại xã Lý Nhơn (374 ha) và xã Long Hòa (16 ha). Trong niên vụ muối 2013, mặc dù bị ảnh hưởng của mưa trái vụ (ngày 26/3/2013 và ngày 5/4/2013) làm thiệt hại 9.980 tấn muối chuẩn bị thu hoạch, ước giá trị thiệt hại gần 10 tỷ đồng  nhưng do điều kiện thời tiết thuận lợi (nắng nóng) nên năng suất sản xuất muối niên vụ 2013 vẫn cao, trong đó năng suất trải bạt đạt 70,1tấn/ha.
9. Thành phố Hồ Chí Minh là một  trong những thị trường tiêu thụ muối lớn của cả nước: dù là một nước có bờ biển dài, tuy nhiên vẫn có những năm sản lượng muối vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, đây có thể nói là tiềm năng về thị trường tại chổ rất lớn, nếu chúng ta có cơ chế, chính sách phù hợp để phát triển nghề muối. 
Theo dự báo của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, dân số Việt Nam năm 2015 là 94.325.000 người, năm 2020 là 99.086.000 người, đến năm 2025 sẽ là 103.219.000 người, tăng 17.429.427 người  (tăng 20,3%) so với năm 2009. Con số này cho thấy tốc độ tăng dân số của Việt Nam tương đối cao, đây sẽ là thị trường tiêu thụ nội địa rất lớn đối với sản phẩm muối tiêu dùng và các sản phẩm được chế từ muối,... là điều kiện, cơ hội để nghề muối tại TP.HCM nói riêng và cả nói nói chung phát triển trong tương lai.
Nhu cầu muối cho tiêu dùng của nhân dân: bình quân 06 kg/người/năm. Thành phố Hồ Chí Minh với dân số trung bình từ 6,650 triệu nguời năm 2007 tăng lên 10 triệu người vào năm 2020 thì tổng khối lượng nhu cầu muối cho tiêu dùng tăng từ 40.000 tấn- năm 2007 lên 60.000 tấn vào năm 2020. Chất lượng muối cho tiêu dùng dân sinh cũng đòi hỏi cao hơn, phải là muối tinh chế trộn Iode, loại trừ các hợp chất không tan nhưng vẫn giữ được các nguyên tố vi lượng trong nước có lợi cho sức khỏe. Ngoài việc tiêu dùng dân sinh, muối còn được sử dụng chủ yếu cho sản xuất: ngành hóa chất, làm nguyên liệu để sản xuất Sút- Clo và một số hóa chất có gốc Na+,... Muối còn được sử dụng trong chế biến thủy hải sản, thực phẩm, thức ăn gia súc, thuộc da…Tại TP Hồ Chí minh, uớc tổng khối lượng muối sử dụng trong lĩnh vực này gấp 2,5 lần khối lượng muối sử dụng cho tiêu dùng: 100 ngàn tấn/năm 2007 và 150 ngàn tấn vào năm 2020. Nhu cầu sử dụng muối ngày càng tăng theo tiến độ đầu tư, phát triển các ngành công nghiệp hóa chất, chế biến thực phẩm, thủy hải sản. Tổng khối lượng muối cần dùng vừa cho nhu cầu tiêu dùng và cho sản xuất trên địa bàn TPHCM là: năm 2007: 140 ngàn tấn, gấp 1,75 lần sản lượng muối sản xuất bình quân năm hiện nay của huyện Cần Giờ (80.000 tấn); năm 2020: 210.000 tấn, gấp 2,62 lần sản lượng muối sản xuất bình quân năm hiện nay của huyện Cần Giờ (80.000tấn ). Tổng khối lượng muối sử dụng trên địa bàn TPHCM chiếm khoảng 17,6% sản lượng muối sản xuất của cả nước.
10. Công tác tư vấn, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể trong lĩnh vực diêm nghiệp tại huyện Cần Giờ (đặc biệt là tại vùng quy hoạch sản xuất muối) đã được chú trọng: xác định rõ kinh tế tập thể mà nòng cốt là các HTX luôn có vai trò và vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương. HTX thực hiện tốt dịch vụ đầu vào, đầu ra, sẽ góp phần ổn định sản xuất, nâng cao thu nhập cho hộ diêm dân. Từ năm 2008-2012, Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với chính quyền 02 xã nằm trong vùng quy hoạch sản xuất muối tư tư vấn, hỗ trợ thành lập và đưa vào hoạt động 02 HTX chuyên doanh trong lĩnh vực diêm nghiệp, bao gồm: HTX muối Tiến Thành thuộc vùng sản xuất muối xã Lý Nhơn (với 53 xã viên) và HTX muối Thiềng Liềng thuộc vùng sản xuất muối xã Thạnh An (với 52 xã viên). Thông qua HTX, nhiều hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất diêm nghiệp tại TP.HCM như: hoạt động xúc tiến thương mại, tập huấn triển khai thực hiện nhân rộng mô hình sản xuất muối theo phương pháp kết tinh trên nền ruộng trải bạt, hỗ trợ cơ giới hóa trong sản xuất diêm nghiệp,… đã được triển khai thực hiện.
Để hỗ trợ HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và ngành nghề nông thôn hoạt động và phát triển (trong đó có HTX diêm nghiệp), UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 3749/QĐ-UBND ngày 24/8/2010 về phê duyệt ”Đề án xây dựng và phát triển mô hình Hợp tác xã nông nghiệp-dịch vụ giai đoạn 2010-2015 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, theo đó đã đưa ra một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho HTX về vấn đề nguồn nhân lực; về đất đai, nhà xưởng; về tín dụng;... cụ thể:
- Về nguồn nhân lực: thứ 1, giao Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Khoa học-Công nghệ, Liên minh HTX, Ủy ban nhân dân quận-huyện được tuyển dụng, ký kết hợp đồng đối với cán bộ trẻ có trình độ đại học, cao đẳng, tiền lương và các chế độ BHXH, BHYT do ngân sách thành phố chi trả thông qua các đơn vị được phân công tuyển dụng, để tăng cường, biệt phái số cán bộ này về làm việc tại các HTX làng nghề (từ 01-02 người/HTX) với thời gian làm việc nhất định từ 3 đến 5 năm, sau đó rút về bố trí công tác mới. Ngoài tiền lương do các đơn vị biệt phái chi trả, số cán bộ tăng cường cho HTX nông nghiệp được các HTX phụ cấp thêm nếu HTX hoạt động có hiệu quả. Thứ 2, giao Sở Nội vụ, Sở Nông nghiệp và PTNT và Liên minh HTX phối hợp xét chọn trong cán bộ quản lý, xã viên HTX hoặc con em xã viên (mỗi HTX từ 01-02 người/năm) để đào tạo tập trung dài hạn từ Trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên, sau khi học trở về làm việc tại các HTX, 100% học phí do ngân sách thành phố hỗ trợ; thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ miễn phí cho đối tượng đang làm việc tại HTX nông nghiệp. Thứ 3, giao Liên minh HTX vận đồng các mạnh thường quân trao học bổng cho xã viên hoặc con em xã viên của HTX làng nghề, ngành nghề nông thôn có hoàn cảnh khó khăn đang theo học tại trường đại học, cao đẳng nếu cam kết tốt nghiệp về làm việc tại HTX. Thứ 4, giao Ủy ban nhân dân quận-huyện xem xét bố trí cán bộ chuyên trách theo dõi khối kinh tế tập thể,  trong đó có HTX nông nghiệp, ngành nghề nông thôn. Ít nhất là 01 cán bộ có trình độ đại học am hiểu về ngành nghề nông thôn để kịp thời tư vấn hỗ trợ HTX.
- Về đất đai, nhà xưởng: giao các sở ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân quận-huyện tập trung tháo gỡ những vướng mắc về giao đất, cấp quyền sử dụng đất cho các HTX làng nghề, ngành nghề nông thôn nhằm giúp HTX có điều kiện đầu tư phát triển sản xuất-kinh doanh. Phấn đấu từ nay đến năm 2015, tất cả HTX làng nghề, ngành nghề nông thôn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp quy hoạch, tạo cơ sở hỗ trợ HTX tiếp cận nguồn vốn vay từ tổ chức tín dụng.
- Về tín dụng: Thông qua hoạt động của Quỹ trợ vốn xã viên HTX (Quỹ CCM) do Liên minh HTX thành phố quản lý, Quỹ Đầu tư phát triển thành phố, Ủy  ban nhân dân thành phố  bổ sung nguồn vốn hoạt động cho Quỹ và có chính sách hỗ trợ riêng cho HTX nông nghiệp, ngành nghề nông thôn như sau: Đối với HTX thành lập mới: được vay vốn tối đa 70% vốn theo dự án ban đầu được duyệt với lãi suất bằng không để xây dựng trụ sở làm việc, mua sắm trang thiết bị, vốn sản xuất kinh doanh số vốn còn lại sẽ huy động từ xã viên HTX trong thời hạn 03  năm đầu mới thành lập, 02 năm sau hỗ trợ 50% lãi suất vốn vay nhằm giúp các  HTX phát triển. Các năm  tiếp theo, nếu HTX có nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh sẽ được tiếp cận các nguồn vốn khác của thành phố. Đối với HTX đang kiện toàn củng cố (nếu có phương án củng cố và sản xuất – kinh doanh khả thi): hỗ trợ cho vay với lãi suất bằng 50% lãi suất quy định, tối đa trong 03 năm để có điều kiện đầu tư và phát triển.
Đồng thời, để hỗ trợ cơ sở vật ban đầu cho HTX nông nghiệp, ngành nghề nông thôn (trong đó có HTX diêm nghiệp) thành lập mới: UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 5259/QĐ-UBND ngày 12 tháng 10 năm 2012 về việc ban hành chính sách hỗ trợ cơ sở vật chất ban đầu cho các Hợp tác xã nông nghiệp-dịch vụ thành lập mới trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, theo đó quy định: mỗi hợp tác xã nông nghiệp, ngành nghề nông thôn thành lập mới được hỗ trợ một phần kinh phí (nhưng tổng mức hỗ trợ không quá 30 triệu đồng cho một hợp tác xã) để mua sắm các trang thiết bị cần thiết phục vụ thông tin liên lạc, hoạt động của bộ máy quản lý điều hành tại văn phòng giao dịch.
11. Việt Nam chính thức trở thành viên của WTO là cơ hội cho sản phẩm muối Việt Nam nói chung, muối Cần Giờ nói riêng có thể thâm nhập vào thị trường thế giới: trở thành thành viên chính thức của WTO, thời gian qua Việt Nam đã có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, trong đó có sản phẩm muối. Hiện tại, sản phẩm muối của Việt Nam, đặc biệt là huyện Cần Giờ đã được một số nước trong khu vực rất tín nhiệm, sử dụng (do có chất lượng tốt) như: Hàn Quốc (phục vụ làm kim chi), Mỹ và Nhật bản. Trở thành viên của WTO là cơ hội cho sản phẩm muối Việt Nam nói chung, muối Cần Giờ nói riêng có thể thâm nhập vào thị trường thế giới với điều kiện là các nhà đầu tư phải có chiến lược mới cho hạt muối Cần Giờ.

Giới Thiệu Chi Cục PTNT TP.HCM

Chi cục Phát triển nông thôn

Chi cục Phát triển nông thôn là cơ quan trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, chịu sự chỉ đạo, lãnh đạo trực tiếp của Sở Nông nghiệp và PTNT; đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn của Cục Hợp tác xã và PTNT.

xem tiếp

Liên tịch

Chương Trình Liên Tịch với các Đoàn Thể :Chương trình Liên tịch về tăng cường phối hợp chặt chẽ trong sự nghiệp phát triển nông thôn:

Liên Kết web

Danh sách liên kết với các cơ quan, đơn vị liên quan, cơ quan đối tác trong nước.

GO