LIÊN TỊCH Sở Ngành

Tổng kết chương trình liên tịch giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng giai đoạn 2011 – 2015

Tổng kết chương trình liên tịch giai đoẠn 2006 – 2010 và định hướng chương trình liên tịch giai đoạn 2011 – 2015: Thực hiện Nghị quyết 391/SNN-NQ-LT ngày 03 tháng 4 năm 2006, về việc thực hiện Nghị quyết liên tịch giữa Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Hội Liên hiệp Phụ nữ TP, Hội Nông dân TP, Thành đoàn TNCS Hồ Chí Minh, về phát huy vai trò của nông dân, phụ nữ và tuổi trẻ thành phố trong sự nghiệp phát triển và đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ngoại thành giai đoạn 2006 – 2010. Trên cơ sở tổng hợp tình hình thực hiện Ban Chỉ đạo Chương trình liên tịch báo cáo sơ kết hoạt động chương trình liên tịch giai đoạn 2006 – 2010 và phương hướng thực hiện giai đoạn 2011 – 2015, phù hợp với Chương trình hành động số 43-CTr/TU ngày 20/10/2008 của Thành uỷ TP.HCM về thực hiện nghị quyết số 26 – NQ/TW của BCH Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Quyết định số 10/2009/QĐ-UBND ngày 22/01/2009 của UBND TP.HCM về ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Thành ủy, như sau:

PHẦN I:
KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH LIÊN TỊCH GIAI ĐOẠN 2006 – 2010

I/ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2006 – 2010:
Trong giai đoạn 2006-2010, thực hiện Quyết định số 97/2006/QĐ-UBND ngày 10 tháng 7 năm 2006 của Ủy ban nhân dân  thành phố về ban hành chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thành phố giai đoạn 2006 – 2010, ngành nông nghiệp thành phố đã phối hợp với các quận huyện, đoàn thể tổ chức thực hiện đạt được những kết quả khả quan như:
- Tốc độ tăng trưởng GDP nông lâm ngư nghiệp năm 2010 trên địa bàn thành phố đạt 5% (cả nước 2,8%). Bình quân giai đoạn 2006 – 2010 tăng 5%/năm (cả nước 3,36 %/năm). Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp trên địa bàn thành phố năm 2010 so với năm 2009 đã đạt một số kết quả như sau:
+ Chăn nuôi: giá trị sản xuất ước đạt 1.042,8 tỉ đồng, tăng 5,2% so cùng kỳ.
+ Trồng trọt: giá trị sản xuất ước đạt 980,7 tỉ đồng, tăng 2,8% so cùng kỳ.
+ Lâm nghiệp: giá trị sản xuất ước đạt 33 tỉ đồng, tăng 5,8% so cùng kỳ.
+ Thủy sản: giá trị sản xuất ước đạt 1.023,5 tỉ đồng, tăng 10% cùng kỳ.
- Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp trên địa bàn thành phố năm 2010 (giá hiện hành) đạt 8.911,4 tỉ đồng. Trong đó:
+ Chăn nuôi: 3.977,9 tỉ đồng, chiếm 44,6% tổng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp.
+ Trồng trọt: 2.334,6 tỉ đồng, chiếm 26,2% tổng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp.
+ Lâm nghiệp: 89,1 tỉ đồng, chiếm 1% tổng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp.
+ Thủy sản: 1.700 tỉ đồng, chiếm 19,1% tổng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp.
+ Dịch vụ nông lâm ngư nghiệp: 809,8 tỉ đồng, chiếm 9,1% tổng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp.
- Trình độ kỹ thuật, khoa học công nghệ áp dụng trong sản xuất nông nghiệp ngày càng được nâng cao; chương trình tập huấn, huấn luyện và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật được quan tâm, tăng cường đầu tư và được nhiều nông dân ứng dụng vào sản xuất. Đến nay, hoạt động trồng trọt, chăn nuôi đã sử dụng nhiều giống mới, giống chất lượng cao: bò sữa, heo, hoa kiểng (7 giống kiểng lá, 3 giống hoa), 6 giống cây ăn trái, 10 giống rau (2 giống bầu, 5 giống ớt, 2 giống bí đao và 1 giống mướp).
II/ KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHỐI HỢP THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH LIÊN TỊCH:
1/ Công tác phối hợp tuyên truyền, vận động (4 nội dung chính theo định hướng chương trình liên tịch giai đoạn 2006 – 2010):  

1.1/ Phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền về Kế hoạch chuyển đổi diện tích lúa năng suất thấp sang các loại cây trồng vật nuôi có giá trị cao tại 13 xã thực hiện đề án chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Trong giai đoạn 2006-2010, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ tổ chức tập huấn 101 lớp tại các quận - huyện có sản xuất nông nghiệp, với 7.180 lượt người tham dự (đối tượng là cán bộ các phòng nghiệp vụ, đoàn thể quận - huyện, phường – xã, hội viên hội nông dân và cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo) về chính sách khuyến khích CDCCKTNN theo Quyết định số 97/2006/QĐ-UBND ngày 10/7/2006, Quyết định số 105/2006/QĐ-UBND ngày 17/7/2006 và Quyết định số 15/2009/QĐ-UBND ngày 10/02/2009.

Bảng 1: Tổng số lớp tập huấn và số lượt người tham gia tập huấn
QĐ 97 và 105, 15 trong giai đoạn  2006 - 2010

Năm Số lớp tập huấn Số lượt người tham gia tập huấn
2006  13  1.220
2007  24  3.727
2008  07  442
2009  36  888
2010  21  903
Tổng  101  7.180

- Phối hợp với Đài truyền hình Trung ương, Thành phố và Đài Tiếng nói nhân dân thành phố thực hiện 200 chuyên đề tuyên truyền định kỳ; kết hợp với các quận huyện, phường xã phát hành 19.000 tờ bướm và 4.000 cẩm nang về Chương trình và Chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Các đơn vị cùng phối hợp tuyên truyền, thuyết phục nông dân chuyển diện tích sản xuất lúa năng suất thấp sang cây trồng có năng suất cao, kết quả đạt được tại 6 quận, huyện sản xuất nông nghiệp: tổng diện tích chuyển đổi gần 10.000 ha/18.000 ha do nông dân đăng ký, trong đó tại 13 xã, phường thực hiện đề án CDCCKTNN, đã có 2.199 hộ/ 4.236 hộ thực hiện chuyển đổi.
1.2/ Phối hợp tuyên truyền về Chương trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn; Tuần lễ Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; ngày  môi trường thế giới (từ 29/4 đến 6/5 mỗi năm); chương trình năng suất xanh:
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ động lồng ghép các nội dung công tác, thực hiện tuyên truyền và triển khai các hoạt động cụ thể trong công tác bảo vệ môi trường: kết hợp tuyên truyền các chính sách hỗ trợ phát triển NN-NT với tuyên truyền về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với hơn 4.000 lượt người tham dự; hằng năm tổ chức ra quân tổng vệ sinh đường phố, thu gom bao bì vỏ chai, dán áp phích, phát tờ bướm tuyên truyền về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại các huyện ngoại thành. Đã soạn thảo, in và phát hành 100.000 tờ bướm tuyên truyền về nước sạch và vệ sinh môi trường cho nhân dân 36 phường, xã chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006 – 2010 của Thành phố và các phường, xã nghèo có các hộ dân chưa được sử dụng nước tại các trạm cấp nước tập trung. Tổ chức 13 lớp huấn luyện, chuyển giao chương trình năng suất xanh tại 13 xã; đồng thời thành lập 45 nhóm năng suất xanh của xã - ấp. 
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các đơn vị  liên tịch và Sở Tài nguyên và Môi trường, cùng  địa phương tổ chức 05 cuộc mít tinh hưởng “Tuần lễ Quốc gia nước sạch và Vệ sinh môi trường” và “Ngày môi trường thế giới” tại các xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh; xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi; xã Tân Xuân, Huyện Hóc Môn; xã Tân Quý Tây, huyện Bình Chánh, xã Hưng Long, huyện Bình Chánh. Qua các cuộc mitting đã tiến hành triển khai điểm tổng vệ sinh đường phố, thu gom bao bì vỏ chai, dán áp phích, phát tờ rơi tuyên truyền về nước sạch và VSMTNT và hướng dẫn phương pháp thu gom bao bì vỏ chai, lưu giữ các loại hóa chất thuốc BVTV sử dụng trong nông nghiệp và chuyển giao các chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, cụ thể:
+ Năm 2006-2008, phát trên 100.000 tờ rơi phục vụ về công tác tuyên truyền về nước sạch và bảo vệ môi trường, tổ chức 05 lớp tập huấn tại 5 huyện ngoại thành, với hơn 400 lượt người tham dự với các chuyên đề liên quan đến giải pháp giảm thiểu môi trường nông thôn, chất thải nông nghiệp, sử dụng tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên nước, tổ chức 03 đợt tập huấn cho lực lượng thanh niên nông thôn về an toàn vệ sinh lao động trong sản xuất nông nghiệp với hơn 560 lượt người tham dự;
+ Năm 2008-2010 đã tổ chức thu gom bao bì vỏ chai tại 104 điểm (gần cánh đồng trồng rau) của các quận huyện có sản xuất nông nghiệp. Kết quả: đã thu gom được 7.288 kg bao bì, vỏ chai thuốc BVTV, trong đó: huyện Củ Chi: 3.085 kg; quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức: 380 kg; huyện Bình Chánh: 504 kg; huyện Hóc Môn và quận 12: 3.319 kg. Bao bì, vỏ chai thuốc BVTV được thu gom sẽ được vận chuyển về kho để chờ tiêu hủy.
1.3/ Phối hợp tuyên truyền, phổ biến các nội dung liên quan đến kinh tế hợp tác:
Trong giai đoạn 2006-2010 đã tiến hành tổ chức tập huấn 60 lớp với 2.319 lượt người tham dự về Luật HTX và các Nghị định liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế tập thể cho Ban vận động kinh tế tập thể tại địa phương – có sự tham gia của Hội Nông dân, Hội liên hiệp phụ nữ và Đoàn Thanh niên tại địa phương. Phát hành hơn 9.500 tờ rơi về các nội dung cơ bản liên quan đến Hợp tác xã và Tổ hợp tác. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ thành lập, đến nay:
* Tổ hợp tác: trên địa bàn Thành phố hiện có 220 tổ hợp tác đang hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau (tổ rau an toàn, chăn nuôi, tổ đổi công - dần công; tổ đường nước; tổ hợp tác - liên kết giữa người cung ứng dịch vụ đầu vào, người sản xuất và người tiêu thụ sản phẩm đầu ra; tổ hợp tác góp vốn, góp sức cùng xây dựng cơ sở hạ tầng; tổ liên kết vay vốn của Ngân hàng …) với tổng số tổ viên là 4.951 - bình quân có 22 tổ viên/THT. Quy mô, nội dung hoạt động và hình thức quản lý ở các THT còn ở quy mô nhỏ, từ 10 đến 30 hộ, về diện tích trên dưới 10 ha, tổ chức gọn nhẹ, nội dung hoạt động đơn giản nhưng thiết thực theo sự tự nguyện của các thành viên, phân chia lợi ích công bằng, cùng có lợi.
* Hợp tác xã: hiện có 48 HTX nông nghiệp đăng ký hoạt động trong nhiều ngành nghề phục vụ cho sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ phục vụ đời sống xã viên (Cung ứng vật tư nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm, sản xuất và tiêu thụ rau an toàn, Hoa Lan, cây kiểng, Tiểu thủ công nghiệp, Chăn nuôi, Nuôi trồng Thủy sản,…) với tổng số xã viên là 3.756, bình quân 78 xã viên/HTX. Tổng doanh thu của HTX là 18,6 tỷ  đồng, lãi của các HTX là 4,045 tỷ, bình quân 1 HTX lãi 237,9 triệu đồng.
Ngoài ra, Thành Đoàn TP đã phối hợp với các ngành tổ chức các Hội nghị quán triệt và tuyên truyền trong cán bộ, đoàn viên, hội viên, thanh niên về kinh tế tập thể. Đối tượng chủ yếu là Thường trực, Uỷ viên Thường vụ quận, huyện Đoàn. Hàng năm, Thành đoàn còn tổ chức Hội nghị chuyên đề công tác chỉ đạo xây dựng các Tổ hợp tác, Hợp tác xã Thanh niên nhằm mục đích thông tin, trao đổi kinh nghiệm và tăng cường công tác chỉ đạo xây dựng Hợp tác xã Thanh niên và các loại hình thanh niên hợp tác làm kinh tế.
Thông qua hệ thống Đoàn tại địa phương, Thành đoàn Thành phố đã tham mưu với chính quyền địa phương tổ chức triển khai, vận động cán bộ Đoàn viên, Hội viên, thanh niên hợp tác làm kinh tế, hỗ trợ các điều kiện về cơ sở vật chất, mặt bằng, cho vay vốn,… để thành lập các Hợp tác xã, đồng thời hướng dẫn các thủ tục kinh doanh, đăng ký thuế,… Một số huyện đoàn, xã đoàn đã tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương tạo điều kiện hỗ trợ cho các Hợp tác xã thanh niên hoạt động. Tính đến nay đã xây dựng được 15 Hợp tác xã thanh niên với tổng số vốn điều lệ là 1.258.000.000 đồng.
1.4/ Tiếp tục vận động tiêm phòng, phòng, chống dịch cúm gia cầm, LMLM, PRRS, kiểm dịch sản phẩm gia cầm; phòng trừ rầy nâu và tiêu hủy lúa bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và các dịch bệnh khác:
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chủ trì, phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ TP, Hội Nông dân TP, Thành Đoàn Thành phố tổ chức nhiều đợt tập huấn tuyên truyền về Pháp luật thú y, chương trình xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh, tuyên truyền tập huấn các biện pháp phòng chống bệnh truyền nhiễm trên gia súc, gia cầm; tập huấn phòng trừ rầy nâu, bệnh hại lúa và các chính sách hỗ trợ cho nông dân liên quan, triển khai công tác phòng, chống dịch cúm gia cầm H5N1, lở mồm long móng, bệnh tai xanh trên heo (PRRS), rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá hại lúa…, tổ chức tập huấn về kỹ thuật chăm sóc hoa lan, cây kiểng, cách trồng giống bắp lai có năng suất cao, trồng rau an toàn, hội thảo về kinh nghiệm chăn nuôi phòng, trị bệnh cho bò sữa, chăn nuôi heo nái, heo thịt có hiệu quả cao, tổ chức cho nữ nông dân giao lưu, tham quan các mô hình làm ăn có hiệu quả trong nước và nước ngoài để học tập kinh nghiệm áp dụng cho sản xuất đạt hiệu quả cao, các chính sách hỗ trợ thiệt hại cho nông dân và các cơ sở sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, phối hợp tuyên truyền tại Hội LH Phụ nữ các quận huyện các nội dung liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm cho các đối tượng là chị em tiểu thương, người tiêu dùng bằng nhiều hình thức: tập huấn, phát tài liệu tuyên truyền, hỏi – đáp…

Bảng 2: Tổng số lớp tập huấn và số lượt người tham gia tập huấn
Phòng trừ dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi  - trong giai đoạn  2006 - 2010

Năm Số lớp Số lượt người tham gia tập huấn
CHĂN NUÔI    
2006 - 2010  435  23.000
TRỒNG TRỌT     
2006 - 2010  226  12.652
Tổng  661  35.652

2/ Phối hợp tổ chức các hoạt động phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế xã hội trên cơ sở thực hiện các chương trình, dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn:
2.1/ Phát động thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động trong nông nghiệp; thực hiện tháng cao điểm An toàn vệ sinh lao động trong từng năm.

- Hưởng ứng “Tuần lễ quốc gia về an toàn -  vệ sinh lao động - phòng chống cháy nổ”, hằng năm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Hội Nông dân thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường và các địa phương tổ chức lễ mittinh phát động với các nội dung: thực hiện tiểu phẩm tuyên truyền; hướng dẫn về kỹ thuật an toàn trong sử dụng và bảo quản thuốc BVTV; cấp phát tài liệu…: năm 2006 tổ chức tại xã Xuân Thới Thượng (Hóc Môn), năm 2007 tổ chức tại xã Trung Lập Hạ (Củ Chi), năm 2008 tổ chức tại xã Bình Mỹ (Củ Chi), năm 2009 tổ chức tại xã Tân Nhựt (Bình Chánh), năm 2010 tổ chức xã Trung Lập Thượng (Củ Chi). Qua 5 lần tổ chức đã thu hút được 1.400 đại biểu là nông dân địa phương và cán bộ đại diện cho các Sở ngành tham dự.
-  Phối hợp tổ chức các lớp tập huấn thực hiện chương trình khuyến nông, BVTV, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động trong sản xuất nông nghiệp. Trong 5 năm (2006 – 2010) đã phối hợp tập huấn 348 lớp, với 10.860 lượt người tham dự về sản xuất rau an toàn; huấn luyện IPM/rau; quy trình sản xuất rau an toàn theo hướng GAP, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho thanh niên nông thôn,… Tổ chức trình diễn, hội thảo về sử dụng thuốc BVTV tại 146 điểm với 6.171 lượt người; xây dựng 05 mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển giao kỹ thuật sản xuất rau an toàn.
- Với mục đích đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức cho người lao động trong sản xuất nông nghiệp về các tiêu chuẩn, qui trình, qui phạm kỹ thuật, các biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động khi sử dụng máy móc, thiết bị, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp; nhằm từng bước thay đổi các hành vi, tập quán lạc hậu ảnh hưởng xấu đến môi trường nông thôn; phòng ngừa ô nhiễm môi trường; bảo sức khoẻ người nông dân và bảo vệ môi trường chung; nâng cao chất lượng cuộc sống. Đồng thời, tạo sân chơi lành mạnh bổ ích tại khu vực nông thôn ngoại thành; tăng cường sự phối hợp giữa Hội Nông dân, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố nhằm giải quyết, xử lý những hành vi gây suy thoái, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường; không đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động; đẩy mạnh các hình thức liên kết hợp tác, nhằm mục đích phát triển nông nghiệp bền vững. Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với Hội Nông dân và Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố tổ chức Hội thi “An toàn vệ sinh lao động trong sản xuất nông nghiệp”. Hội thi “An toàn vệ sinh lao động trong sản xuất nông nghiệp” lần thứ I/2007, lần thứ II/2008, lần thứ III/2009 và lần IV/2010 đã được tổ chức tại Hội trường Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn TP.HCM với số lượng thí sinh tham dự trung bình mỗi lần thi là 65 thí sinh, là Hội viên Hội nông dân, cùng với sự tham gia của hơn 200 Cổ Động viên đến từ 13 quận huyện có sản xuất nông nghiệp. Thí sinh phải trải qua 3 hình thức thi: thi trắc nghiệm, bấm chuông dành quyền trả lời và phần thi tiểu phẩm, các thí sinh tranh tài sôi nổi cùng với sự cổ động nhiệt tình của các Cổ động viên tham dự.
2.2/ Phối hợp kiểm tra, đề xuất các nội dung đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp và ngành nghề nông thôn; đầu tư xây dựng đề án 4 mô hình làng nghề: bánh tráng xã Phú Hòa Đông, đan đát xã Thái Mỹ (huyện Củ Chi), nuôi và chế biến da cá sấu phường Thạnh Xuân (Quận 12), nghề muối xã Lý Nhơn (huyện Cần Giờ):
- Trong giai đoạn 2006-2010, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với các đoàn thể, trong đó Hội Nông dân thành phố là nòng cốt góp ý, tổng hợp, đề xuất các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng tại 13 xã điểm chuyển dịch CCKTNN. Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân thành phố đã quan tâm chỉ đạo, chấp thuận và giao Ủy ban nhân dân các quận huyện làm chủ đầu tư các công trình bờ bao phòng chống triều cường kết hợp giao thông nông thôn, sạt lở bờ sông, tiêu thoát nước. Trong 02 năm (2008-2009) đã hoàn thành 210 công trình, phát huy hiệu quả trong việc phòng chống triều cường, sạt lở bờ sông, tiêu thoát nước phục vụ sản xuất cho khoảng 8.060 ha đất sản xuất nông nghiệp; phòng chống ngập úng, bảo vệ 14.860 hộ dân tại các khu dân cư và vùng sản xuất nông nghiệp, góp phần đảm bảo đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân tại khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, lụt bão. Hội Nông dân thành phố tham gia huy động thực hiện 324 công trình dọn dẹp vệ sinh trên kênh rạch, các tuyến đường nông thôn, tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường, nước sạch nông thôn, trồng cây xanh. Thành Đoàn đã chỉ đạo các quận huyện đoàn tổ chức các hoạt động phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, như nạo vét kênh nội đồng, tham gia xây dựng đường giao thông nông thôn, xây dựng nhà tình thương, nhà tình nghĩa, phòng chống bão lụt,...
 - Về hoạt động hỗ trợ phát triển 04 làng nghề (làng nghề thuộc đề án phát triển 04 làng nghề nông thôn đã được phê duyệt tại Quyết định số 2988/QĐ-UB ngày 04/8/2003): Nhằm hỗ trợ cho diêm dân làng nghề muối xã Lý Nhơn nói riêng và diêm dân Thành phố nói chung tiêu thụ sản lượng muối tồn đọng, Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với Hội Nông dân và các sở ngành có liên quan họp bàn nhiều phương án tiêu thụ muối cho diêm dân Thành phố, trong năm 2010 đã tiến hành hỗ trợ HTX muối Tiến Thành thu mua của 92 hộ diêm dân trên địa bàn huyện Cần Giờ và vận chuyển về kho tạm trữ được 10.032 tấn muối trắng (theo yêu cầu của Tổng Công ty Lương thực miền Bắc), đồng thời hỗ trợ HTX ký kết hợp đồng nguyên tắc thu mua muối đối với 05 doanh nghiệp với sản lượng 2.707 tấn/năm; tiến hành hỗ trợ HTX xây dựng phương án vay vốn thu mua hết sản lượng muối trắng tồn đọng trên địa bàn thành phố (phương án đã được UBND Thành phố xem xét, phê duyệt hỗ trợ 100% lãi vay cho HTX); tiến hành liên hệ với SaigonCo.op giới thiệu, hỗ trợ HTX muối Tiến Thành quảng bá, thực hiện các thủ tục để đưa 03 sản phẩm muối (muối biển, muối tinh sấy và muối tinh sấy i-ốt) của HTX vào tiêu thụ tại hệ thống siêu thị của SaigonCo.op, đến nay HTX đã cung cấp 158 tấn muối cho SaigonCo.op (bình quân cung cấp 60 tấn muối/tháng). Đồng thời hoàn thành xây dựng Quy chuẩn sản phẩm cho 02 làng nghề: làng nghề muối xã Lý Nhơn, huyện Cần Giờ và làng nghề bánh tráng xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi: Với mục tiêu hỗ trợ xã viên HTX và các hộ dân thuộc 02 làng nghề nắm bắt được yêu cầu về tiêu chuẩn thu mua của Liên hiệp HTX Thương mại Thành phố (SaigonCo.op): chỉ tiêu cảm quan, chỉ tiêu chất lượng chủ yếu (hàm lượng NaCl, chất không tan, độ ẩm, Ca2+, Mg2+, SO42,…), chỉ tiêu vi sinh, hàm lượng kim loại nặng, thành phần cấu tạo, yêu cầu về quy trình sản xuất, đóng gói, bảo quản sản phẩm,… góp phần định hướng nâng cao chất lượng sản phẩm muối và bánh tráng của 02 làng nghề; tiếp tục theo dõi tình hình sản xuất kinh doanh của 04 làng nghề, từ đó có giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ 04 làng nghề phát triển. Tính đến cuối năm 2010, tình hình sản xuất kinh doanh tại 04 làng nghề cụ thể như sau:
 + Làng nghề đan đát xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi:  toàn xã hiện có 500 hộ nghề và 5 cơ sở đầu mối giải quyết cho hơn 1.000 lao động tại chỗ, sản lượng hàng hoá hàng năm tăng bình quân từ 10-15%. Hằng năm xuất khẩu trên 600.000 sản phẩm các loại loại (năm 2010 có hơn 100.000 sản phẩm, đạt giá trị xuất khẩu là 1.246 triệu đồng.
+ Làng nghề bánh tráng xã Phú Hoà Đông, huyện Củ Chi: có 527 hộ, với 1.054 lao đông tham gia sản xuất tại làng nghề. Hiện làng nghề còn 716 lò tráng thủ công và 60 lò tráng máy. Sản lượng bình quân hàng ngày cho ra 30 tấn bánh thành phẩm: 2/3 số bánh được xuất khẩu và số còn lại tiêu thụ trong nước.
+ Làng nghề nuôi và chế biến da cá sấu xuất khẩu phường Thạnh Xuân quận 12: với tổng đàn cá sấu hiện nay là 187.041 con của 59 tổ chức và cá nhân gây nuôi. Số lượng cá sấu bố-mẹ: 7.999 con trong đó 2.175 con bố, 5.824 con mẹ. Số lượng cá sấu con sinh sản năm 2010 là 44.025 con (trong đó mua từ các tỉnh 13.290 con). Số lượng cá sấu thương phẩm: 142.861 con. Bán cá sấu giống trong nước (tính đến 01/12/2010): 32.810 con cá sấu nước ngọt, xuất bán nội địa nhiều nhất tại tỉnh Quảng Ninh là 11.869 con. Ước tính doanh thu bán nội địa: 20,311 tỷ đồng. Trong năm 2010 xuất khẩu 887 sản phẩm da cá sấu, xuất khẩu chủ yếu đi Nga, Canada.
+ Làng nghề muối xã Lý Nhơn, huyện Cần Giờ: với diện tích sản xuất 917,7 ha, chiếm 57% tổng diện tích sản xuất toàn thàhnh phố; có 473 hộ với 2.020 lao động. Sản lượng muối của làng nghề trong niên vụ 2009-2010 đạt 51.403 tấn. Theo quy hoạch chung vừa trình UBND TP xem xét phê duyệt thì đến năm 2010 tổng diện tích SX muối toàn huyện là 1.000 ha (trong đó Làng nghề muối Lý Nhơn là 920 ha, chiếm 92% diện tích sản xuất toàn huyện).
2.3/ Phối hợp triển khai thực hiện Chương trình thí điểm xây dựng nông thôn mới tại 06 xã:
2.3.1- Phối hợp xây dựng thí điểm Mô hình phát triển nông thôn tại ấp Chánh, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi
Công tác xây dựng thí mô hình phát triển nông thôn tại ấp Chánh, xã Tân Thông Hội được thực hiện theo phương pháp tiếp cận dựa vào nội lực và do cộng đồng địa phương làm chủ. Trong quá trình triển khai các hoạt động hỗ trợ Ban nhân dân  ấp, xã xây dựng mô hình nông thôn mới đều có ký kết liên tịch thực hiện giữa Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Nông dân thành phố, Hội LH Phụ nữ thành phố và Thành đoàn TP.HCM. Từng đơn vị thực hiện nhiệm vụ theo phân công cụ thể, như: Hội LHPN xây dựng nhóm “Phụ nữ tín dụng tiết kiệm”, hỗ trợ vốn cho chị em phát triển kinh tế gia đình và xây dựng nhà vệ sinh tự hoại, xây dựng hầm biogas; Hội Nông dân nòng cốt xây dựng Tổ “hợp tác sản xuất nông nghiệp”; Thành Đoàn xây dựng Tổ “Thanh niên lập nghiệp”; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng Nhóm “Năng suất xanh” và là điều phối viên thực hiện đề án chung,… Tính đến thời điểm cuối năm 2010 đã hoàn thành thực hiện các nội dung trong Đề án xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới tại ấp Chánh, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi theo lộ trình đã được xây dựng.
2.3.2- Phối hợp xây dựng mô hình nông thôn mới tại 6 xã thí điểm (Tân Thông Hội, Thái Mỹ - huyện Củ Chi; Xuân Thới Thượng - huyện Hóc Môn; Tân Nhựt - huyện Bình Chánh; Nhơn Đức - huyện Nhà Bè; Lý Nhơn - huyện Cần Giờ):
- Xã Tân Thông Hội; đã đạt đến nay là 15/19 tiêu chí; 04 tiêu chí còn lại: Trường học, Cơ sở vật chất văn hóa, Chợ, Thu nhập phấn đấu hoàn thành trong năm 2011.
- Tại 5 xã còn lại, xã Thái Mỹ đã đạt 10/19 tiêu chí; xã Xuân Thới Thượng đạt 10/19 tiêu chí; xã Tân Nhựt đạt 05/19 tiêu chí; xã Nhơn Đức đạt 07/19 tiêu chí và xã Lý Nhơn đạt 07/19 tiêu chí.
- Đến nay Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới 6 xã đã phối hợp với các đơn vị tư vấn hoàn thành cơ bản công tác quy hoạch, bước đầu đã tổ chức tham vấn ý kiến nhân dân và báo cáo với Ban Kinh tế và Ngân sách Hội đồng nhân dân thành phố.
- Tại các xã Tân Thông Hội, Thái Mỹ và Nhơn Đức đã xóa cơ bản nhà tạm, dột nát; tại xã Xuân Thới Thượng và xã Tân Nhựt đã xóa hơn 80%, xã Lý Nhơn đã vận động hỗ trợ xóa hơn 50% nhà tạm, dột nát.
- Về đầu tư cơ sở hạ tầng, tại xã Tân Thông Hội đã thực hiện 45 công trình (gồm 36 công trình giao thông, 04 công trình thủy lợi, 03 công trình trường học, 02 công trình văn hóa - xã hội); trong đó, đã hoàn thành 19 công trình, gồm: 10 công trình giao thông; 04 tuyến kênh thủy lợi; 03 trường học; 02 công trình văn hóa); tổng vốn đầu tư hơn 140 tỷ đồng, trong đó dân và doanh nghiệp đóng góp hơn 70 tỷ đồng (tỷ lệ 49,9% vốn đầu tư). Tại 5 xã đã thực hiện 127 công trình (gồm 100 công trình hạ tầng kỹ thuật; 27 công trình văn hóa - xã hội). Các công trình đầu tư hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội do Thành phố đầu tư và dân, cộng đồng đóng góp (hiến đất, công lao động, vật chất...) đã góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất tại các xã.
- Về sản xuất nông nghiệp: xã Tân Thông Hội đàn bò sữa tăng 285 con so cùng kỳ (tổng đàn hiện nay là 1.385 con); đàn heo tăng 1.270 con (tổng đàn hiện nay 5.570 con); đàn trâu và bò thịt 810 con (tăng 10 con); cá kiểng 1.500m2 (tăng 300m2); rau an toàn tăng 16 ha (tổng diện tích 106 ha); hoa lan – cây kiểng: tăng 04 ha (tổng diện tích 12 ha); cỏ thức ăn gia súc 33 ha (tăng 11 ha); may đan tăng 380 sản phẩm/ngày (đạt 1.880 sản phẩm/ngày); chuyển dịch 2.653 lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, thương mại - dịch vụ, v.v…
- Các xã xây dựng mô hình nông thôn mới đều đẩy mạnh công tác giữ gìn mỹ quan, vệ sinh môi trường; đã có hơn 20.000 cây xanh được trồng mới tại các tuyến đường; nhân dân vay vốn xây dựng 3.625 nhà vệ sinh tự hoại, xây dựng 210 hầm Biogaz, đảm bảo vệ sinh môi trường trong chăn nuôi.
- Công tác liên kết, hợp tác trong sản xuất, tiêu thụ được đẩy mạnh, đã củng cố, phát triển 03 Hợp tác xã hiện hữu; thành lập thêm 01 Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ Rau an toàn, thành lập mới 11 Tổ hợp tác (trong các lĩnh vực thủy sản, rau an toàn, hoa Lan, nuôi trăn và ngành nghề nông thôn). Đặc biệt, Hợp tác xã sản xuất muối và các sản phẩm muối Tiến Thành (xã Lý Nhơn) đã thực hiện các thủ tục chứng nhận sản phẩm an toàn; ký hợp đồng cung cấp sản phẩm với Liên hiệp HTX Thương mại TP (bình quân 60 tấn/tháng); đã ký hợp đồng với Tổng Công ty Lương thực miền Bắc thu mua tạm trữ muối tồn trong dân được 10.032 tấn (theo tinh thần công văn 1021 của Thủ tướng Chính phủ). Ngoài ra, thông qua các lớp tập huấn, dạy nghề, đã giới thiệu và đưa vào sản xuất tại các xã các ngành nghề mới, sử dụng lao động nữ, nông nhàn, đẩy mạnh nâng cao thu nhập tại các xã, như đan giỏ xách, may bao gia công, se nhang,... Bình quân lao động thu nhập 1,8 triệu - 2,5 triệu đồng/người/tháng, tùy cơ sở ngành nghề nông thôn, dịch vụ. Các cơ sở đan giỏ cước, may bao công nghiệp chủ yếu do lao động nữ sử dụng thời gian rỗi thực hiện, thu nhập tăng thêm 20 – 30 ngàn đồng/ngày. Các thiết chế văn hóa tại các xã đang được hoàn thiện, góp phần tích cực cho công tác tuyên truyền và góp phần quan trọng trong việc định hướng, vận động nhân dân theo phương châm: Huy động nội lực tại chỗ là chính, lấy sức dân lo cuộc sống cho dân, Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần thông qua các chương trình đầu tư theo quy hoạch và định hướng phát triển của từng thời kỳ.
3/ Phối hợp nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn
3.1/ Tiếp tục nghiên cứu và triển khai các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về ưu đãi, hỗ trợ, cơ chế chính sách tạo điều kiện chuyển đổi, khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, sản xuất dịch vụ giống chất lượng cao; tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng :

- Để thực hiện nhiệm vụ xây dựng nền nông nghiệp gắn liền với đặc trưng của một đô thị lớn. Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thủy đặc sản; phát triển mạnh các cây con chủ lực theo hướng nông nghiệp công nghệ cao. Phát triển theo chiều sâu các mô hình và nhân rộng các mô hình tổ chức sản xuất có hiệu quả như kinh tế trang trại, kinh tế hộ kết hợp sản xuất với kinh doanh. Đa dạng hoá và gắn kết  chặt các hình thức xây dựng thương hiệu, xuất xứ, chất lượng đủ sức cung ứng các đơn hàng nông sản khối lượng lớn, Sở Nông nghiệp và PTNT Thành phố đã phối hợp với Hội Nông dân và các sở ngành có liên quan tham mưu, trình UBND Thành phố phê duyệt Quyết định số 97/2006/QĐ-UBND ngày 10/7/2006 về việc Phê duyệt Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn thành phố và Quyết định số 105/2006/QĐ-UBND ngày 17/7/2006 về việc ban hành quy định về khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006-2010 (gọi tắt là Chương trình 105 – Chương trình hỗ trợ lãi vay).
Trong quá trình triển khai Quyết định số số 105/2006/QĐ-UBND ngày 17/7/2006 về việc ban hành quy định về khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006-2010, những khó khăn, vướng mắc, hạn chế của Quyết định đã được Sở Nông nghiệp, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, cùng các sở ngành có liên quan tổ chức họp góp ý, đề xuất, tham mưu UBND Thành phố ban hành Quyết định số 15/2009/QĐ-UBND ngày 10/2/2009 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006-2010 ban hành kèm theo Quyết định số 105/2006/QĐ-UBND ngày 17/7/2006 của UBND Thành phố, nhằm kịp thời hỗ trợ các tổ chức, cá nhân vay vốn (có hỗ trợ lãi suất) đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, phù hợp với tình hình thực tế.
Tính đến thời điểm cuối năm 2010, để xây dựng chính sách thay thế Chương trình 105, Sở Nông nghiệp đã phối hợp với Hội Nông dân, cùng phối hợp với các sở, ban, ngành quận huyện có sản xuất nông nghiệp tham mưu UBND Thành phố xây dựng “Chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị” Trong chính sách lần này có bổ sung nhiều điểm mới như: mức hỗ trợ lãi suất; đối tượng và nội dung hưởng chính sách rộng hơn; thời gian; quy trình hợp lý hơn.
Kể từ ngày UBND Thành phố phê duyệt quyết định Quyết định số số 105/2006/QĐ-UBND, Sở Nông nghiệp và PTNT Thành phố đã phối hợp với Hội nông dân các quận – huyện có sản xuất nông nghiệp triển khai, hướng dẫn nhiều dự án vay vốn đầu tư phát triển sản xuất, thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo định hướng của thành phố. Lũy kế từ khi thực hiện Chương trình 105 đến cuối năm 2010, tổng số phương án được phê duyệt vay vốn có hỗ trợ lãi vay theo Chương trình 105 là 2.247 phương án, trong đó: huyện Nhà Bè: 628 phương án, Cần Giờ: 280 phương án, Bình Chánh: 490 phương án, Củ Chi: 447 phương án, quận 12: 35 phương án, Hóc Môn: 249 phương án, quận Bình Tân: 7 phương án, quận 2: 8 phương án, quận 9: 68 phương án và Quận Thủ Đức: 34 phương án. Tổng số hộ vay 14.868 hộ, tổng vốn đầu tư 2.555.366 triệu đồng, tổng vốn vay được hỗ trợ lãi suất 1.601.489 triệu đồng. Trong đó, các phương án vay vốn thuộc diện xóa đói giảm nghèo là 420 phương án, với tổng số hộ vay 3.050 hộ, tổng vốn đầu tư 40.798 triệu đồng và tổng vốn vay được hỗ trợ lãi suất 23.585 triệu đồng.
- Thực hiện quyết định số 242/2005/QĐ-UBND ngày 29/12/2005, của UBND TP về việc phân công Hội LH Phụ nữ TP chịu trách nhiệm nhận vốn ủy thác từ ngân sách nhà nước quản lý cho vay và thu hồi trực tiếp đối với các hộ tiểu thương kinh doanh sản phẩm gia cầm tại các chợ có nhu cầu chuyển đổi ngành nghề và trang thiết bị tủ bảo ôn. Hội LH Phụ nữ đã phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Thương mại TP và phòng kinh tế quận, huyện khảo sát lập kế hoạch thực hiện chương trình cho vay vốn trang bị tủ bảo ôn và chuyển đổi ngành nghề đối với các hộ kinh doanh gia cầm. Trên cơ sở xây dựng quy chế cho vay, Thành phố đã phê duyệt cho Hội Phụ nữ thực hiện nguồn vốn vay được cấp từ ngân sách với số tiền trên 02 tỷ đồng cho các hộ kinh doanh trên địa bàn thành phố. Tính đến cuối năm 2008 đã giải ngân cho vay 864.000.000 đồng cho 100 hộ kinh doanh sản phẩm gia cầm trang bị tủ bảo ôn tại các chợ thuộc quận 2, 3, 4, 7, 8, 9, 11, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Tân Phú, Bình Chánh.
- Thành Đoàn đã chỉ đạo các quận huyện đoàn có sản xuất nông nghiệp tổ chức tuyên truyền vận động và giáo dục đoàn viên đi đầu thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của thành phố. Đặc biệt, trong các đợt bùng phát các dịch bệnh như: bệnh “vàng lùn, lùn xoắn lá” ở lúa; dịch “Heo tai xanh”; dịch sốt xuất huyết…, Ban Thường vụ Thành Đoàn đã chủ động, kịp thời chỉ đạo các quận huyện Đoàn tuyên truyền các biện pháp phòng chống dịch bệnh trong thanh niên và hộ gia đình thanh niên trên địa bàn.
- Nhằm hỗ trợ cho nông dân thành phố nâng cao giá bán sữa, Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với Hội Nông dân thành phố tổ chức hội thảo về nâng cao chất lượng sữa, đồng thời thương lượng với công ty cổ phần thương mại sữa Việt Nam (Vianmilk) về giá cả thu mua sữa đối với hộ chăn nuôi bò sữa. Kết quả: chất lượng  và giá cả thu mua sữa được nâng cao (giá cả thu mua sữa của Vinamilk trong tháng 12/2010: 9.800 đồng/kg, tháng 3/2011: 10.900 đồng/kg),  giúp nông dân tích cực sản xuất, phát triển đàn bò sữa của thành phố. Đồng thời với mục đích hỗ trợ các THT, HTX, các hộ dân trồng hoa cây kiểng tìm kiếm, ký kết được những hợp đồng tiêu thụ hoa, cây kiểng lớn, trong năm 2010, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Hội Nông dân thành phố đã tổ chức 22 gian hàng giới thiệu hoa cây kiểng của các THT, HTX, các hộ dân tại công viên 23/9.
- Các đơn vị liên tịch đã phối hợp triển khai các hoạt động tư vấn, hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp nông nghiệp; thực hiện thành công 25 hợp đồng sản xuất cung ứng sản phẩm nông sản và các dịch vụ tư vấn đã ký kết. Kịp thời sơ kết, tổng kết nhân rộng số lượng hợp đồng trong năm.
4/ Đẩy mạnh công tác phối hợp, đào tạo nguồn nhân lực; tham quan học tập mô hình; hội thảo; hội thi, hội chợ nhằm thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn:
4.1/ Phối hợp, đào tạo nguồn nhân lực

Các đơn vị thực hiện liên tịch đã tiếp tục phối hợp triển khai chương trình đào tạo, nâng cao năng lực quản lý của cán bộ nông nghiệp cấp phường xã ở ngoại thành; đào tạo và tăng cường cán bộ nông nghiệp đủ năng lực, kinh nghiệm thực hiện chương trình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi. Đặc biệt, đã đề xuất và được Hội đồng nhân dân thành phố phê duyệt tại Nghị quyết số 07/2007/NG-HĐND ngày 05/7/2007 hỗ trợ cho mỗi Hợp tác xã hai cán bộ có trình độ đại học (một đại học có chuyên môn về quản lý, một đại học có chuyên môn về kỹ thuật) để ổn định và phát triển Hợp tác xã nông nghiệp từ 2007-2010; ngân sách thành phố chi trả chế độ trợ cấp (như cho cán bộ làm việc tại phường-xã): 800 ngàn đồng/người/tháng.
4.2/ Phối hợp tổ chức tham quan các mô hình tiên tiến trong sản xuất, phát triển nông nghiệp, nông thôn; các hội thảo, hội thi:
- Năm 2009, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố phối hợp Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hội Nông dân thành phố tổ chức hội thi “Nét đẹp duyên quê” cho nữ nông dân các quận- huyện, cuộc thi đã tạo sân chơi bổ ích thu hút đông đảo chi em nông dân tham gia.
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng Hội Nông dân thành phố xây dựng kế hoạch, chương trình chi tiết tổ chức đưa đoàn nông dân đi “học tập tiến bộ khoa học trong tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm  và kinh tế hợp tác tại nước ngoài” từ năm 2006 đến năm 2010 (Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã phê duyệt tại văn bản số 1308/UB-CNN ngày 08/3/2006). Đã tổ chức 3 đợt học tập, khảo sát với 58 lượt cán bộ, hội viên (đóng góp 50% kinh phí, còn lại ngân sách chi). Năm 2006 tổ chức học tập về sản xuất và tiêu thụ hoa Lan tại Thái Lan; năm 2007 tìm hiểu về sản xuất và tiêu thụ hoa, kinh tế hợp tác tại KunMing – Yun Nam – Trung Quốc; năm 2008 học tập, khảo sát về tiến bộ kỹ thuật, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và các mô hình hoạt động Nông Hội tại Đài Loan.
- Hằng năm tổ chức Hội thi Nhà nông đua tài nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của thành phố về sản xuất nông nghiệp và các kiến thức có liên quan đến nông nghiệp – nông thôn và nông dân nói chung. Thông qua hội thi tăng cường giao lưu, học tập kinh nghiệm trong cán bộ hội, tiến bộ kỹ thuật, quản lý và hỗ trợ các kiến thức phục vụ nông nghiệp-nông thôn. Năm 2007 tham dự “Hội thi Nhà Nông đua tài” do Trung ương Hội Nông dân tổ chức (đội huyện Hóc Môn, hạng 1 “Hội thi Nhà Nông đua tài” của thành phố năm 2006 làm đại diện đã tham dự Vòng thi khu vực phía Nam tại Long An - đạt giải Khuyến khích); năm 2008 do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì.
- Với mục đích đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức về Chương trình NTM cho cán bộ, nhân dân không chỉ tại các xã xây dựng thí điểm mô hình NTM, mà còn lan tỏa tại các xã thuộc địa bàn 5 huyện ngoại thành và các Sở Ngành, đoàn thể liên quan, nhằm chung tay xây dựng thành công Chương trình xây dựng NTM tại thành phố. Đồng thời tăng cường trang bị cho người lao động trong sản xuất – nhất là trong sản xuất nông nghiệp, vẫn còn chiếm tỉ lệ cao tại các huyện ngoại thành về các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn; về quan hệ sản xuất; về liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; về kinh tế hợp tác nhằm có lượng hàng lớn, chất lượng theo yêu cầu tiêu thụ sản phẩm hiện nay,…; từng bước thay đổi các hành vi, tập quán lạc hậu ảnh hưởng xấu đến môi trường nông thôn; phòng ngừa ô nhiễm môi trường; bảo vệ sức khoẻ bản thân – gia đình và bảo vệ môi trường chung; nâng cao chất lượng cuộc sống, Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Thành Đoàn Thành phố tổ chức Hội thi “Tìm hiểu về Chương trình xây dựng nông thôn mới – TP.Hồ Chí Minh, lần thứ I - năm 2010” tại hội trường Nhà Văn hóa thanh niên, với sự tham gia của các thí sinh của 10 đội dự thi đại diện cho 04 huyện: huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè và 06 đội tại 06 xã xây dựng thí điểm mô hình NTM; xã Tân Thông Hội – huyện Củ Chi (mô hình do Trung ương chọn) và tại 5 xã: Thái Mỹ (huyện Củ Chi), Xuân Thới Thượng (huyện Hóc Môn), Tân Nhựt (huyện Bình Chánh), Nhơn Đức (huyện Nhà Bè), Lý Nhơn (huyện Cần Giờ) – mô hình do Thành phố chọn và hơn 680 cổ động viên.
- Các đơn vị đã phối hợp, tổ chức 28 lượt tham quan các mô hình sản xuất nông nghiệp tiên tiến và kinh tế hợp tác trong và ngoài thành phố với hơn 500 lượt cán bộ hội viên tham dự; 16 đợt hội thảo về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp – nông dân – nông thôn và các chính sách hỗ trợ nông nghiệp,… Đồng thời, Trung tâm tư vấn hỗ trợ nông dân thành phố đã phối hợp với các đơn vị trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tổ chức 64 lớp đào tạo nghề cho nông dân  tại các quận huyện có sản xuất nông nghiệp.
5/ Các hoạt động theo từng đơn vị chủ trì: Trên cơ sở phân công một đơn vị chủ trì, các đơn vị khác cùng phối hợp, tổ chức thực hiện từ cơ sở đến cấp thành phố – theo kế hoạch hằng năm:
5.1/ Phong trào “Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, thành đạt” (Hội Nông dân Thành phố chủ trì);
- Từ nhiều năm qua Phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi; đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng luôn được duy trì và phát động rộng khắp đến từng tổ hội. Qua đó số hộ sản xuất - kinh doanh giỏi ngày càng tăng. Cuối kỳ thực hiện Nghị quyết liên tịch giai đoạn 2001 – 2005, số hộ đạt danh hiệu sản xuất - kinh doanh giỏi cấp thành phố là 3.718 hộ, chiếm tỷ lệ # 5% số hộ (77.207 hộ nông dân), thì đến năm 2010 bình bầu và cấp giấy chứng nhận cho 30.285 hộ/61.684 hộ sản xuất nông nghiệp chiếm 49,09%. Đã tổ chức Hội nghị giao lưu nông dân sản xuất kinh doanh giỏi giai đoạn 2003 – 2007 (tổ chức ngày 06/7/2007). Đặc biệt, trong năm 2008, đã phối hợp tổ chức Lễ tuyên dương “Người nông dân tiêu biểu” lần thứ I, với 23 nông dân; lần thứ III với 42 nông dân được bình chọn.
Để đạt được kết quả trên, bên cạnh việc phát huy các tiềm năng về đất đai, vốn, tay nghề của nông dân, các cấp Hội đã chú trọng khai thác có hiệu quả các nguồn lực xã hội  để hỗ trợ trực tiếp cho người nông dân. Cụ thể trong 5 năm Hội đã hướng dẫn cho các hộ nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã xây dựng 862 dự án với tổng số hộ vay 11.807 hộ, tổng nguồn vốn phát vay 165,277 tỷ đồng (tính đến thời điểm cuối tháng 10/2010) bình quân mỗi dự án vay trên 200 triệu đồng. Phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức đào tạo, tập huấn, tham quan học tập (trong và ngoài nước), về khoa học kỹ thuật và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp cho hơn 70.000 lượt nông dân ở các cấp; thường xuyên tổ chức gặp gỡ, đối thoại giữa nông dân với doanh nghiệp, chuyển giao thông tin, tổ chức hội chợ quảng bá sản phẩm, tham gia các hình thức liên kết sản xuất như tổ hợp tác, hợp tác xã giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm, đến nay đã có 87 hợp đồng được ký kết.
Từ phong trào trên ngày càng có nhiều mô hình làm ăn giỏi: mô hình chăn nuôi bò sữa, heo sinh sản, heo thịt, các loại cây cảnh, cá cảnh, cá thịt, thủy hải sản,… Ngoài ra, còn có nhiều mô hình sản xuất mới có hiệu quả cao như: mô hình trồng cỏ tại xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi cho thu nhập gấp 4 lần so với trồng lúa; mô hình chăn nuôi heo sạch tại xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè đem lại lợi nhuận trên 200 triệu đồng/năm,…
- Trong điều kiện khu vực ngoại thành phát triển đô thị hoá nhanh, để thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, giảm lao động nhàn rỗi ở nông thôn, các cấp hội đã phối hợp đào tạo, giới thiệu việc làm cho 19.687 lao động tại các cụm khu công nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh; liên kết giới thiệu cho 223 thanh niên nông thôn tham gia xuất khẩu lao động, tham gia xây dựng các làng nghề nhằm tạo việc làm ổn định cho lao động nông nghiệp tại địa phương. Từ phong trào nông dân giỏi hỗ trợ nông dân nghèo, mỗi chi hội giúp từ 1 - 2 hộ nghèo, đến nay đã có 9.175 hộ nông dân nghèo được Hội tư vấn giúp đỡ.
5.2- Phối hợp tổ chức Hội thi “Môi trường xanh” và thực hiện Chương trình trồng cây phân tán trên địa bàn thành phố; Lễ trồng cây 19/5 kỷ niệm sinh nhật Bác (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì):
- Hội thi “Môi trường Xanh - Sạch - Đẹp”: tiếp tục nâng cao nhận thức và giáo dục môi trường cho cư dân thành phố. Cung ứng các giống cây trồng, đủ số lượng, đa dạng về chủng loại và thực hiện có hiệu quả. Cụ thể: triển khai Hội thi vẽ tranh về Môi trường xanh; triển khai cuộc thi đố vui về môi trường xanh Thành phố, Phong trào hội thi Công sở Văn minh - Sạch - Đẹp, khu phố Văn minh - Sạch - Đẹp.
- Hội thi “Vườn Sinh thái đẹp”: Phối hợp Hội Nông dân, Chi cục Bảo vệ môi trường, các Sở, ngành và địa phương tổ chức thành công 04 lần Hội thi “Vườn sinh thái đẹp” đã tạo điều kiện cho các nhà vườn nâng cao kiến thức, tiếp cận công nghệ, trao đổi học hỏi kinh nghiệm; đồng thời góp phần hình thành một số cụm du lịch nhà vườn ở các quận ven, ngoại thành tạo điều kiện đẩy nhanh chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển đổi cây trồng vật nuôi. 
- Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các đoàn thể liên quan, hằng năm tổ chức Hội thi “Nét vẽ Môi trường xanh”. Với các chủ đề như: Bảo vệ môi trường sống, thực hiện nếp sống văn minh đô thị,… Thu hút hơn 3.000 em thiếu niên, nhi đồng đến từ 69 đơn vị; trong đó, có: Hội Mỹ thuật, Nhà Thiếu nhi Q.1; trường học khối mẫu giáo và tiểu học, THCS các quận 2, 3, 5, 6, 7, 11, 12, Tân Phú, Phú Nhuận; Phòng Giáo dục quận Bình Thạnh và huyện Bình Chánh, Cần Giờ… Thông qua Hội thi, đã tạo thêm sân chơi hấp dẫn, bổ ích cho các cháu thiếu niên, nhi đồng trong việc giáo dục, nhận thức môi trường xanh – sạch – đẹp và cuộc sống xung quanh. Quan trọng hơn là Hội thi đã tác động tích cực rộng và lan tỏa sâu hơn đến với các tầng lớp nhân dân và các cháu thanh thiếu niên nhi đồng thành phố. Đặc biệt năm 2010, đã tổ chức thành công Hội thi Nét vẽ Môi trường xanh lần thứ 5 cho gần 2.000 thiếu niên, nhi đồng toàn thành tham dự, hội thi đã góp phần giáo dục ý thức bảo vệ cảnh quan môi trường và phát huy năng khiếu cho lớp trẻ tương lai của thành phố.
- Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn bác Hồ”: được tổ chức định kỳ hàng năm.  Tổng số lượng cây xanh được trồng (trong 05 năm 2006-2010) tại buổi lễ phát động là 1.341 cây, gồm nhiều khác nhau: Dầu rái, Sao đen, Dáng hương, Gõ đỏ, Chò chỉ, Muồng đen, Chiêu liêu, bằng lăng nước, Phượng vĩ, Lim xẹt, Me tây, Móng bò, Sò đo cam, Bàng, Đa búp đỏ,... bình quân có khoảng 400 đại biểu tham dự/lễ phát động
Qua các phong trào nêu trên, hàng năm đã thu hút hơn 2.941 cơ quan, đơn vị, trường học, khu phố, khu dân cư, hưởng ứng tham gia tích cực với trên 3 triệu cây xanh – cây hoa kiểng đã được trồng, chăm sóc, bảo vệ tốt trong những năm qua, góp phần cải thiện cảnh quan, môi trường sinh thái đô thị, nâng cao độ che phủ cây xanh của thành phố năm 2010 lên 39,2%, trong đó độ che phủ của rừng đạt 18,59%.

Bảng 3: Tổng hợp kết quả thực hiện trồng cây phân tán và
Lễ trồng cây 19/5 giai đoạn 2006 – 2010

Năm Số cây
Trồng cây phân tán Lễ trồng cây 19/5
2006  365.330   127 – tại Nhà truyền thống
Chiến khu An Phú Đông, quận 12
2007 257.500  152 – tại Đền tưởng niệm Khu dân công hỏa tuyến
Mậu Thân, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh
2008 240.000 390 – tại Cụm Công nghiệp Nhị Xuân,
huyện Hóc Môn
2009 241.000 320 – tại Đền tưởng niệm các Vua Hùng (quận 9)
2010 240.000 352 – tại Khu Di tích lịc sử Bến Dược (Củ Chi)
Tổng 1.333.830 1.341

5.3/ Phong trào “Xây dựng Nhà vệ sinh hợp quy cách”; “hầm Biogas” (Hội LH Phụ nữ Thành phố chủ trì):
Thực hiện Nghị quyết Hội đồng nhân dân TP về chính sách đầu tư hạ tầng nông nghiệp – nông thôn, chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn thành phố; theo Quyết định số 26/2008/QĐ-UBND ngày 01/4/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố và công văn 557/UBND-CNN ngày 03/2/2010 của UBND TP, Hội LHPN đã tiếp nhận 40 tỷ đồng từ Công ty Đầu tư tài chính Nhà nước thành phố để hỗ trợ các hộ dân có nhu cầu vốn xây nhà vệ sinh và hầm biogas. Tại các quận huyện có thực hiện chương trình đã thành lập Ban chỉ đạo trong đó Hội Phụ nữ được cơ cấu là Thường trực nhằm phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương tổ chức 125 lớp, với 6.000 người tham dự, tuyên truyền về mục tiêu chương trình vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2008 – 2010 và triển khai quy chế cho vay, chọn đối tượng, xét duyệt cho vay, kiểm tra tiến độ, chất lượng xây dựng các công trình vệ sinh, hầm biogas. Trong những buổi triển khai chương trình và sinh hoạt cho thành viên hàng tháng, bên cạnh việc thu hồi vốn, Hội còn lồng ghép nội dung sinh hoạt về các phong trào Hội, về kiến thức nuôi dạy con, tổ chức cuộc sống gia đình, thực hiện bình đẳng giới,….  Trong 5 năm qua (2006 – 2010) bằng nguồn vốn của Công ty Đầu tư tài chính nhà nước TP, Quỹ Vì người nghèo (Ủy ban Mặt trận Tổ quốc TP), Sở Tài nguyên và Môi trường, Hội đã hỗ trợ vốn không lãi suất cho các hộ dân xây dựng tổng cộng 10.490 nhà vệ sinh hợp quy cách và 2.219 hầm biogas với số tiền là 55.476.500.000 đồng, đã giúp xử lý tốt nguồn phân thải từ người và gia súc, tránh lây nhiễm bệnh và phát sinh dịch bệnh từ nguồn phân thải trong môi trường tự nhiên.
5.4/ Chương trình “Mỗi tháng một chuyên đề nông nghiệp, nông thôn”; Ngày Hội Thanh niên nông thôn “Hoa của đất”; “Chiến dịch Mùa hè xanh” (Thành Đoàn Thành phố  chủ trì):
5.4.1-Chương trình “mỗi tháng 01 chuyên đề nông nghiệp, nông thôn”
- Thành Đoàn đã triển khai đến các cơ sở Đoàn – Hội khu vực quận huyện tổ chức các chuyên đề về nông nghiệp và tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn cho đoàn viên, hội viên, thanh niên nhằm trao đổi kinh nghiệm về tình hình thực hiện kinh tế nông thôn, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, qua đó rút kinh nghiệm từ các mô hình nông thôn đang áp dụng trên địa phương và tiếp thu những mô hình mới có hiệu quả (tập trung ở các huyện ngoại thành như: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, ….), các đợt sinh hoạt chuyên đề này đã thu hút trên 60.000 lượt đoàn viên, hội viên, thanh niên tham gia.
- Ngoài ra, trong các chiến dịch tình nguyện hè như: Mùa hè xanh, Kỳ nghỉ hồng, Hoa Phượng Đỏ,… các chiến sĩ tình nguyện đã tổ chức nhiều hoạt động nhằm tuyên truyền, vận động thực hiện xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn. Tham gia vận động, tập huấn cho thanh niên nông thôn thành lập các đội hình dịch vụ như: hướng dẫn du lịch sinh thái, đội hình phục vụ tiệc cưới, giữ xe, dịch vụ kinh tế cộng đồng,… Các cơ sở Đoàn cũng đã chủ động phối hợp với các trường Đại học, Trung tâm Khuyến nông Thành phố tổ chức 143 lớp bồi dưỡng khoa học kỹ thuật nông nghiệp với 4.823 lượt người tham gia; tổ chức 49 điểm trình diễn kỹ thuật khuyến nông, các buổi tập huấn về nghiệp vụ kỹ thuật canh tác nông nghiệp, phòng chống bệnh trên cây trồng cho các hộ nhà nông, tổ thanh niên làm nông nghiệp, hợp tác xã thanh niên nông thôn với hơn 12.000 lượt người tham gia qua đó kịp thời cập nhật kiến thức, kỹ thuật trồng trọt mới, hướng dẫn biện pháp xử lý đối với những vấn đề thường gặp trong canh tác nông nghiệp góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương;
5.4.2- Tổ chức Ngày hội thanh niên nông thôn “Hoa của đất”
- Ban Thường vụ Thành đoàn đã chỉ đạo các cơ sở Đoàn khu vực ngoại thành duy trì thường xuyên hằng năm Ngày hội thanh niên nông thôn “Hoa của đất” với các nội dung như: triển lãm hình ảnh, trưng bày sản phẩm nông nghiệp, diễn đàn trao đổi kinh nghiệm, tuyên dương thanh niên nông thôn làm kinh tế giỏi,…. Ngoài ra, trong 5 năm qua đã tổ chức 9 hội thi Thanh niên giỏi nghề nông với 1.093 lượt thanh niên tham gia. Bên cạnh đó, hằng năm, Thành Đoàn đều giới thiệu với Trung ương Đoàn các gương thanh niên có dự án kinh tế hiệu quả để nhận giải thưởng Lương Định Của - giải thưởng dành cho các điển hình thanh niên nông thôn làm kinh tế giỏi trên toàn quốc.
- Hoạt động này đã được chủ động tổ chức theo định kỳ hàng năm và hiện nay được tổ chức theo cụm thi đua do Đoàn Thanh niên – Hội LHTN Thành phố định hướng, các đơn vị duy trì và tổ chức tốt như: Củ Chi, Bình Chánh, Thủ Đức,…
5.4.3- Các hoạt động tình nguyện chăm lo cho thanh niên nông thôn
- Vấn đề hỗ trợ, tạo điều kiện giúp thanh niên làm kinh tế đặc biệt là trong đối tượng thanh niên nông thôn đã được Ban Thường vụ Thành Đoàn quan tâm và quyết liệt chỉ đạo trong suốt thời gian qua. Trong các năm gần đây, Thành Đoàn đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ nhằm khai thác các nguồn vốn cho thanh niên vay như nguồn quỹ “Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp” của Hội Liên hiệp Thanh niên thành phố, nguồn quỹ ủy thác từ Ngân hàng chính sách xã hội Thành phố, tổ chức tập huấn theo chuyên đề cho thanh niên đang vay vốn từ các nguồn quỹ, cán bộ phụ trách công tác vốn nhằm nâng cao hiểu biết đối với các vấn đề liên quan đến kinh tế, hướng dẫn việc thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, trao đổi, góp ý, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng nguồn vốn của thanh niên.
- Trong 5 năm qua, Ban Thường vụ Thành Đoàn đã tích cực vận động nguồn lực, trực tiếp tổ chức lực lượng cũng như chỉ đạo các cơ sở Đoàn triển khai các hoạt động nhằm hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn như khơi thông 11.500m kênh thủy lợi nội đồng, tham gia xây dựng 31,5km đường giao thông nông thôn, 81 cây cầu nông thôn, trồng 4.638 cây xanh dọc các tuyến đường xã Tân Nhựt – Bình Chánh, 1.050 cây xanh trên 11 tuyến đường xã Xuân Thới Thượng – Hóc Môn, 3.000 cây xanh trên 10 tuyến đường xã Tân Thông Hội – Củ Chi, 4.500 cây dâm bụt và quỳnh anh làm hàng rào mẫu dài 1.500m ở ấp Lý Thái Bưu, xã Lý Nhơn – Cần Giờ… Tổ chức xây tặng, sửa chữa 41 nhà tình thương, hơn 300 nhà tình bạn cho gia đình thanh niên nông thôn có hoàn cảnh khó khăn. Tổ chức khám, chữa bệnh, phát thuốc miễn phí cho 64.606 thanh niên, người dân vùng sâu tại các xã – huyện ngoại thành. Tổ chức hướng nghiệp, giới thiệu việc làm cho 23.850 lao động (làm công nhân tại các xí nghiệp trong và ngoài địa bàn). Ngoài ra, các Quận huyện đoàn còn phối hợp với Trung tâm công tác xã hội Thành phố, CLB Huấn luyện Thành phố, CLB Sao Bắc Đẩu tăng cường đầu tư vào công tác tổ chức các sân chơi cho thanh thiếu nhi trên địa bàn như: tổ chức vui Tết Trung Thu cho hơn 1.200 em thiếu nhi xã Tân Nhựt – Bình Chánh, 1.500 thiếu nhi xã Lý Nhơn – Cần Giờ; tập huấn công tác tập hợp thanh niên, nâng cao kỹ năng sinh hoạt dã ngoại, kỹ năng trại cho 110 Đoàn viên - Hội viên - Thanh niên xã Tân Thông Hội – Củ Chi,... Trong dịp hè, cũng đã vận động tặng gần 15.000 bộ sách giáo khoa, và tổ chức 45 lớp ôn tập hè, lớp phổ cập tin học cho 770 thanh thiếu nhi trên địa bàn 5 huyện.
III/ NHẬN XÉT – ĐÁNH GIÁ
1/ Mặt được:
- Sở Nông nghiệp và PTNT, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh triển khai hiệu quả các nội dung đến các đơn vị thành viên, đến các quận, huyện trên địa bàn thành phố. Mỗi đơn vị thành viên các ngành đã chủ động phối hợp trên các lĩnh vực có thể nhằm phát huy nội lực, hiệu quả cao nhất như ở Hóc môn, huyện Củ chi, quận 9. Các chế độ thông tin, báo cáo về cho Ban chỉ đạo của các đơn vị đã được thực hiện thường xuyên. Bộ phận thường trực đã chủ động tham mưu, đề xuất, theo dõi đánh giá tình hình thực hiện chương trình về cho BGĐ Sở, Ban TV Thành đoàn, Ban TV Thành hội.
- Chương trình liên tịch đã có những bước phát triển đi vào chiều sâu, có trọng điểm tạo sức thuyết phục cao đối với bà con nông dân, phát huy được hiệu quả rõ nét trên các lĩnh vực chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản, cây kiểng, cơ giới hóa nông nghiệp và ngành nghề nông thôn. Đặc biệt công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao như: bò sữa, rau an toàn, hoa lan cây kiểng – cá kiểng,… đã được triển khai toàn diện ở các quận huyện.
- Thông qua Chương trình liên tịch với đoàn thể, ngành Nông nghiệp đã đưa các chủ trương, chính sách về chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi đến được người nông dân và ngược lại ngành nông nghiệp cũng đã thu thập được những vấn đề bức xúc của nông dân ở địa phương để tham mưu đề xuất với Trung ương, Ủy ban nhân dân Thành phố kịp thời tháo gỡ tạo điều kiện thuận lợi phù hợp với nguyện vọng của nông dân trong việc phát triển nông nghiệp-nông thôn  
- Tại cơ sở, các  hoạt động gắn kết, phối hợp giữa các quận, huyện đoàn, Hội nông dân với các đơn vị trực thuộc Sở như Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi thủy sản, Chi cục Bảo vệ Thực vật, Chi cục Phát triển nông thôn, Trung tâm Khuyến nông,… phòng kinh tế và UBND các quận-huyện, phường-xã đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực thay đổi bộ mặt nông nghiệp, nông thôn ngoại thành, nâng cao mức sống của người lao động, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng hộ khá. Đặc biệt là phong trào nhân dân hiến đất đầu tư cơ sở hạ tầng, hay phát triển vay vốn để chỉnh trang lại các công trình nhà tắm, nhà nhà vệ sinh, hầm biogas,…
- Việc tuyên dương kịp thời các gương nhà nông, thanh niên nông thôn sản xuất kinh doanh giỏi, kiên trì bám đất, bám ruộng, cần cù lao động làm giàu cho gia đình, góp phần làm giàu cho xã hội ngoài việc góp phần động viên kịp thời đối với các điển hình, còn là phương thức giáo dục khá thuyết phục đối với lực lượng lao động nông thôn. Hội thi, hội chợ đã thật sự trở thành sân chơi bổ ích cho mọi giới lao động tại nông thôn, tạo điều kiện giao lưu học hỏi kinh nghiệm, nâng cao kiến thức nông nghiệp, bước đầu đã hỗ trợ nông dân tiêu thụ được các sản phẩm nông nghiệp như: rau, hoa, sữa, muối với giá cả hợp lý.
- Qua các phong trào đã hình thành trong nhận thức của hội viên, đoàn viên về cách nghĩ, cách làm mới, biết kết hợp thời vụ và thời tiết, khí hậu để thu được lợi nhuận cao nhất và sử dụng đồng vốn hợp lý hơn, biết sắp xếp tổ chức lại mô hình sản xuất, hình thành những cách hợp tác làm ăn mới theo hướng phá bỏ độc canh, đa dạng hóa cây trồng, kinh doanh tổng hợp và xây dựng nông thôn, bảo vệ môi trường nông thôn. Chương trình liên tịch đã tác động mạnh và rõ nét vào phong trào nông dân sản xuất - kinh doanh giỏi và thành đạt, thu hút đông đảo hội viên - nông dân tham gia trở thành lực lượng nòng cốt làm chuyển biến về sản xuất, chất lượng và thị trường tiêu thụ, nòng cốt trong phong trào tình làng nghĩa xóm, xây dựng nông thôn, gia đình văn hóa.
- Chương trình xây dựng thí điểm 6 xã nông thôn mới (xã Tân Thông Hội, xã Thái Mỹ - huyện Củ Chi, xã Xuân Thới Thượng – huyện Hóc Môn, xã Tân Nhựt – huyện Bình Chánh, xã Nhơn Đức – huyện Nhà Bè, xã Lý Nhơn – huyện Cần Giờ) được tập trung chỉ đạo đúng tiến độ.
- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi đúng hướng, có hiệu quả, được nông dân và chính quyền địa phương ủng hộ.
2/ Mặt hạn chế:
- Sự phối hợp các bộ phận đơn vị thực hiện Chương trình liên tịch thường xuyên thay đổi, chưa xuyên suốt không đeo bám được công việc. Kế hoạch phối hợp hàng năm vẫn chưa được cụ thể và toàn diện làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện. Đặc biệt: việc thay đổi cán bộ phụ trách theo dõi chương trình liên tịch thường xuyên đã ảnh hưởng nhiều đến hoạt động phối hợp, chỉ đạo chung.
- Việc phối hợp xây dựng các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi hiệu quả giữa các hội, đoàn thể và phòng nông nghiệp, trạm khuyến nông chỉ mới dừng lại ở việc xây dựng mô hình, việc đầu tư tổng kết nhân rộng mô hình bằng nhiều hình thức phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng nơi chưa được chú trọng đúng mức nên hiệu quả đạt được chưa cao.
- Các hoạt động phối hợp trong xây dựng vệ sinh môi trường, xây dựng nông thôn mới, phong trào sản xuất kinh doanh giỏi ở một số huyện quận còn rời rạc, mỗi đoàn thể tự vận động thực hiện riêng do nguồn kinh phí mỗi nơi quá hạn hẹp, sự chi phối chưa nghĩ ở diện rộng còn bó hẹp trong hội viên, đoàn thể mình nên kết quả chưa cao. Nhiều loại hình được hình thành từ các năm trước nhưng thiếu cán bộ, thiếu đầu tư nên chưa được phát triển sâu rộng hay không thực hiện được. Tổ chức sản xuất theo mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã có phát triển, nông dân đã có chuyển biến về nhận thức là cần phải liên kết trong sản xuất. Tuy nhiên kết quả hoạt động của tổ hợp tác, hợp tác xã vẫn còn nhiều hạn chế, nguyên nhân cơ bản là thiếu vốn, bộ máy quản lý còn yếu kém.
- Công tác trợ vốn còn chậm, thủ tục rườm rà, chưa đáp ứng kịp thời so với nhu cầu của thanh niên. Một bộ phận cán bộ Đoàn còn e ngại, chưa tích cực trong việc hướng dẫn thanh niên vay vốn, công tác bảo tồn vốn có những lúc những nơi chưa được đảm bảo. Việc hướng dẫn, hỗ trợ thanh niên chuyển giao và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công tác tư vấn cho thanh niên để xác định mô hình, dự án sản xuất, hỗ trợ thanh niên tìm đầu ra trong tiêu thụ sản phẩm còn yếu.
- Công tác dự báo, thông tin thị trường, xúc tiến thương mại và tiêu thụ nông sản chưa được đầu tư đúng mức. Mô hình HTX, THT làm ăn hiệu quả cũng chưa nhiều, chưa rõ nét.

PHẦN II:
ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH LIÊN TỊCH
GIAI ĐOẠN 2011 – 2015

I/ NHIỆM VỤ, MỤC TIÊU CHUNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP – NÔNG DÂN – NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2011 – 2015:
A/ Nhiệm vụ chung: Tập trung phối hợp để triển khai thực hiện: 
1/ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IX, Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
2/ Chương trình hành động số 43-CTr/TU ngày 20 tháng 10 năm 2008 của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định 10/2009/QĐ-UBND ngày 22/01/2009 của UBND thành phố về thực hiện chương trình hành động số 43-CTr/TU ngày 20/10/2008 của Thành ủy về nông nghiệp - nông dân - nông thôn theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X.
3/ Chương trình “Thành phố Hồ Chí Minh phát triển hướng về Biển Đông thích ứng với Biến đổi khí hậu.
4/ Quyết định số 2011/QĐ-UBND ngày 07 tháng 5 năm 2010 của Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt “ đề án phát triển nông nghiệp đô thị trên địa bàn thành Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025”.
5/ Quyết định số 13/2011/QĐ-UBND ngày 9/3/2011 của UBND Thành phố về việc phê duyệt chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị trên địa bàn Thành phố 2011 – 2015. Tập trung thực hiện tốt các chương trình phát triển rau an toàn; hoa, cây kiểng, cá cảnh; bò sữa; cá sấu; thủy sản; ngành nghề nông thôn; diêm nghiệp; chương trình giống cây con chất lượng cao; chương trình năng suất xanh.
6/ Quyết định số 15/QĐ-UBND ngày 18/3/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc ban hành chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 – 2020.
7/ Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2011-2015.
8/ Chương trình an toàn vệ sinh lao động trong sản xuất nông nghiệp.
B/ Mục tiêu
1/ Mục tiêu chung:
- Phát triển nông nghiệp đô thị trên địa bàn thành phố theo hướng hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, ổn định, bền vững; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, phòng chống có hiệu quả các loại dịch bệnh cây trồng vật nuôi. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt trên 6%/năm, giá trị gia tăng trên 5%/năm.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; kinh tế nông thôn và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch, đặc biệt ở các vùng trũng thấp, ảnh hưởng triều, xâm nhập mặn; hình thành và phát triển những vùng sản xuất giống chất lượng cao, sản xuất nông sản hàng hóa tập trung và chuyên canh; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học để nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản.
- Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân ở khu vực nông thôn, xóa bớt được sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị.
2/ Mục tiêu cụ thể: 
- Tiếp tục giảm diện tích trồng lúa kém hiệu quả ở các vùng có nguy cơ bị tác động của biến đổi khí hậu để chuyển sang cây trồng khác: phấn đấu giai đoạn 2011 - 2015 giảm diện tích trồng lúa từ 3.500 - 4.000 ha. Đến năm 2015:
+ Hoa - cây kiểng: trên 2.100 ha.
+ Cá kiểng:  trên 100 triệu con.
+ Diện tích gieo trồng rau trên 15.000 ha
+ Diện tích trồng cỏ 3.500 ha.
+ Duy trì đàn bò sữa ở mức 80.000 con, đàn heo khoảng 300.000 con.
+ Tôm các loại: trên 10.000 tấn.
+ Đàn cá sấu: 195.000 con.
+ Ổn định và nâng cao năng suất, chất lượng muối Cần Giờ với quy mô 1.000 ha, trong đó muối trải bạt 500 ha.
+ Hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh ở nông thôn ngoại thành: 100%; hộ chăn nuôi xây dựng hầm biogas xử lý chất thải: 80%.
+ Độ che phủ rừng và cây xanh trên địa bàn thành phố: 40%, trong đó độ che phủ rừng và cây lâm nghiệp 19,1%.
- Thực hiện có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới:
+ Hoàn thành đúng tiến độ 06 xã thí điểm mô hình nông thôn mới:
* Đến năm 2011: 01 xã (Tân Thông Hội huyện Củ Chi), xã điểm do Trung ương chọn đạt tiêu chuẩn nông thôn mới.
* Đến năm 2012: thêm 05 xã - các xã điểm do Thành phố chọn (Thái Mỹ, huyện Củ Chi; Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn; Tân Nhựt, huyện Bình Chánh; Nhơn Đức, huyện Nhà Bè và Lý Nhơn huyện Cần Giờ), đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Nâng tổng số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới trên địa bàn thành phố là 06 xã.
+ Hoàn thành quy hoạch nông thôn mới: đạt 100% số xã (58 xã) vào năm 2011.
+ Xây dựng mới 22 xã nông thôn mới: Đến năm 2015 xây dựng thêm 22 xã NTM, gồm: huyện Củ Chi, thêm 09 xã: Trung Lập Hạ, Nhuận Đức, Trung An, An Nhơn Tây, Tân Thạnh Đông, Tân Thạnh Tây, Tân Phú Trung, Trung Lập Thượng và Phước Thạnh; huyện Hóc Môn, thêm 05 xã: Nhị Bình, Thới Tam Thôn, Xuân Thới Sơn, Đông Thạnh và Tân Hiệp; huyện Bình Chánh, thêm 04 xã: Bình Lợi Quy Đức, Đa Phước và Bình Chánh; huyện Nhà Bè, thêm 02 xã: Long Thới và Phước Lộc; huyện Cần Giờ, thêm 02 xã: Bình Khánh và Tam Thôn Hiệp - đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Nâng tổng số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới trên địa bàn thành phố là 28 xã.
II/ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
1/ Tuyên truyền vận động bằng nhiều hình thức phương pháp và đa dạng các chủ trương, chính sách, các phương pháp, cách làm để thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới: tuyên truyền thông qua tài liệu bướm, cẩm nang, sổ tay; tuyên truyền thông qua công tác tổ chức tập huấn; hội thi; tuyên truyền thông qua hệ thống báo đài các nội dung cụ thể như sau:
- Tuyên truyền các chủ trương, chính sách và các giải pháp thực hiện thắng lợi Quyết định số 15/QĐ-UBND ngày 18/3/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc ban hành chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 – 2020 và Quyết định số 13/2011/QĐ-UBND ngày 9/3/2011 của UBND Thành phố về việc phê duyệt chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị trên địa bàn Thành phố 2011 – 2015.
- Tuyên truyền về Kế hoạch chuyển đổi diện tích lúa năng suất thấp sang các loại cây trồng vật nuôi có giá trị cao.
- Tuyên truyền thực hiện về Chương trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn; Tuần lễ Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (ngày 29/4-6/5 hàng năm) và kéo dài đến ngày môi trường thế giới (ngày 5/6 hàng năm); Chương trình an toàn vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ trong sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nông thôn.
- Tuyên truyền, phổ biến luật Hợp tác xã; Cẩm nang thành lập Tổ hợp tác, Hợp tác xã, Cẩm nang Xây dựng nông thôn mới, Phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mới; củng cố và phát triển hợp tác xã, kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nhất là trong lĩnh vực chăn nuôi bò sữa, nuôi tôm, trồng rau an toàn, trồng hoa, cây kiểng, nuôi cá cảnh ...; nâng cao trình độ sản xuất, ứng dụng các tiến bộ khoa học cho nông dân.
- Tiếp tục vận động tiêm phòng gia súc, phòng chống dịch cúm gia cầm, kiểm dịch sản phẩm gia cầm và phòng chống dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá  hại lúa.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.
 - Tuyên truyền thực hiện chương trình trồng cây xanh trên địa bàn thành phố, đặc biệt là tại các xã xây dựng mô hình NTM.
2/ Chuyển giao khoa học kỹ thuật thông qua các hoạt động tập huấn, tham quan, xây dựng mô hình, nhân rộng mô hình áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành nghề nông thôn.
3/ Phát triển sản xuất nâng cao thu nhập:
- Đầu tư cơ sở hạ tầng (thủy lợi, nước sinh hoạt,…)
- Xây dựng và thực hiện nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả.
- Hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã, kinh tế hộ, kinh tế trang trại, góp phần giải quyết được dịch vụ đầu vào, đầu ra c ủa sản phẩm thông qua liên kết 04 nhà (nhà nước, nhà nông, doanh nghiệp và nhà khoa học).
 - Tập trung đào tạo nghề, giải quyết việc làm, đặc biệt chú trọng công tác đào tạo nghề tại các xã xây dựng nông thôn mới, góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn.
 - Thực hiện các hoạt động lồng ghép xóa đói giảm nghèo: phát triển sản xuất, vận động hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở,
 - Thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại.
III/ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC ĐƠN VỊ THAM GIA  PHỐI HỢP
1/ Sở Nông nghiệp và PTNT: Chỉ đạo cho các đơn vị trực thuộc Sở tập trung thực hiện:
- Phổ biến các chủ trương, chính sách, các nhiệm vụ trọng tâm của ngành nông nghiệp trong giai đoạn 2011-2015: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, cơ chế chính sách và các giải pháp để thực hiện các nhiệm vụ trong từng ngành
- Chuyển giao khoa học kỹ thuật
- Củng cố hỗ trợ phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng các mô hình THT, HTX hoạt động có hiệu quả, thực hiện tốt dịch vụ đầu vào, đầu ra đối với các hộ xã viên.
- Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, triển khai thực hiện quy hoạch chuyên ngành: rừng, chăn nuôi, muối,…
- Thực hiện xúc tiến thương mại đối với các mặt hàng nông sản và ngành nghề nông thôn.
- Tiếp nhận các kiến nghị, đề xuất của nông dân thông qua các đoàn thể để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền kịp thời tháo gỡ những khó khăn.
2/ Hội Nông dân Thành phố:
- Tuyên truyền vận động cho cán bộ hội viên tích cực tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn bằng các hoạt động cụ thể:
+ Tuyên truyền, vận động thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011-2015.
+ Tuyên truyền, vận động thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi.
+  Vận động hội viên tích cực tham gia chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; tham gia hợp phần phát triển chương trình khí sinh học trong dự án nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển khí sinh học; tuần lễ Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; ngày môi trường thế giới; chương trình năng suất xanh;…
+ Tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới:
. Vận động nông dân hiến đất đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn.
. Vận động nông dân tích cực tham gia phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập.
. Vận động nông dân liên kết hình thành các tổ hợp tác, HTX; lựa chọn giới thiệu nông dân hay con em của nông dân tham gia bộ máy quản lý tổ hợp tác, HTX, nhằm hỗ trợ phát triển tổ hợp tác, HTX.
. Cho vay vốn từ Quỹ hỗ trợ nông dân, hướng dẫn các thủ tục hồ sơ vay vốn từ ngân hàng Chính sách xã hội, ngân hàng Nông nghiệp và PTNT .
. Trung tâm tư vấn hỗ trợ nông dân xây dựng đề án tổ chức tham quan học tập mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả trong và ngoài nước; đào tạo nghề cho nông dân để họ tích cực tham gia chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng.
. Vận động, tạo điều kiện cho nông dân xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, thực hiện phương châm “tình làng nghĩa xóm”, tích cực tham gia công tác xóa đói giảm nghèo (thông qua việc ủng hộ xây dựng nhà tình thương, tham gia đóng bảo hiểm y tế, tích cực tham gia sản xuất,... tại địa phương).
. Vận động cải tạo vườn tạp, chỉnh trang nhà cửa, vườn nhà theo hướng giàu đẹp, văn minh hiện đại có môi trường sạch sẽ.
 - Xây dựng giai cấp nông dân, liên minh công – nông – trí thức (2010-2015) ngày càng giàu mạnh, làm hạt nhân nòng cốt thực hiện các phong trào nông dân tại địa phương.
3/ Hội Liên hiệp Phụ nữ:
- Tích cực tuyên truyền, vận động cán bộ hội, hội viên hội phụ nữ tham gia thực hiện các chương trình, chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.
- Huy động các nguồn lực hỗ trợ phụ nữ nông thôn tích cực tham gia phát triển sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề nông thôn để giải quyết việc làm, tăng thu nhập.
- Tham gia củng cố và phát triển hợp tác xã, kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nhất là trong lĩnh vực chăn nuôi bò sữa, nuôi tôm, trồng rau an toàn, trồng hoa, cây kiểng, nuôi cá cảnh,...; nâng cao trình độ sản xuất, ứng dụng các tiến bộ khoa học cho nông dân, đặc biệt nông dân là nữ.
 - Tiếp tục tuyên truyền vận động phụ nữ nông thôn tích cực tham gia thực hiện chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2011-2015 thông qua các hoạt động lồng ghép vốn với ngân hàng Chính sách xã hội hay hướng dẫn chị em vay vốn từ các ngân hàng Nông nghiệp-Phát triển nông thôn tham gia hợp phần phát triển chương trình khí sinh học trong dự án nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển khí sinh học; thực hiện thu hồi 40 tỷ đồng đã cho vay xây dựng nhà vệ sinh và hầm biogas giai đoạn 2008-2010 hoàn trả ngân sách nhà nước theo đúng tiến độ.
 - Tăng cường các hoạt động đào tạo nghề và giải quyết việc làm thông qua Trung tâm giới thiệu việc làm thuộc Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố, đồng thời phối hợp với phòng Lao động thương binh xã hội, phòng Kinh tế và trạm Khuyến nông các quận huyện tổ chức các lớp dạy nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm cho phụ nữ nông thôn.
 - Chủ động thực hiện đồng bộ, có hiệu quả công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm và dịch hại trên cây trồng, công tác phòng trống thiên tai, lụt bão, cứu hộ, cứu nạn, phòng chống cháy rừng,…
4/ Thành đoàn Thành phố
- Vận động cán bộ trí thức trẻ tình nguyện về công tác tại các xã ngoại thành, tham gia bộ máy quản lý của các tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp.
- Tích cực hỗ trợ, tạo điều kiện cho thanh niên nông thôn vay vốn từ Quỹ hỗ trợ thanh niên lập nghiệp hoặc vay vốn từ các tổ chưc tín dụng để thục hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị, nhằm giúp thanh niên làm kinh tế, vươn lên làm giàu trong sản xuất nông nghiệp.
- Vận động, hỗ trợ thanh niên nông thôn mạnh dạn, đi tiên phong trong việc  áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, tạo ra những mặt hàng nông sản chất lượng cao cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước.
- Thông qua Chiến dịch mùa hè xanh, Kỳ nghỉ hồng, Chiến dịch hoa phượng đỏ, Ngày chủ nhật xanh,… tập trung tuyên truyền, vận động người dân xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn, thực hiện trồng cây xanh trên các tuyến đường, vườn nhà,… góp phần thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới và Chương trình “Thành phố Hồ Chí Minh phát triển hướng về Biển Đông thích ứng với Biến đổi khí hậu” theo chủ trương của UBND Thành phố.
- Vận động thanh niên nông thôn tích cực tham gia các chương trình đào tạo nghề, nâng cao trình độ chuyên môn,…
- Chủ trì và vận động thanh niên tích cực thực hiện chương trình liên tịch với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trồng 500.000 cây xanh trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011 – 2015.
- Vận động thanh niên nông thôn tích cực tham gia công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm và dịch hại trên cây trồng, công tác phòng trống thiên tai, lụt bão, cứu hộ, cứu nạn, phòng chống cháy rừng,…
III/ CÁC HOẠT ĐỘNG CẤP THÀNH
Trên cơ sở phân công một đơn vị chủ trì, các đơn vị khác cùng phối hợp, tổ chức thực hiện – theo kế hoạch hằng năm:
- Phong trào “Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, thành đạt” (Hội Nông dân Thành phố chủ trì).
- Hội thi “Môi trường xanh – sạch – đẹp, giai đoạn 2011 – 2015” (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì);
- Hội thi “Vườn sinh thái đẹp” lần V (2011 – 2012) (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì);
- Hôi thi “Tìm hiểu Chương trình xây dựng nông thôn mới” (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì);
- Chương trình nước sạch vệ sinh môi trường, giai đoạn 2011 – 2015 (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì);
- Hội thi “Tìm hiểu về An toàn vệ sinh lao động trong sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nông thôn” lần thứ V (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì);
- Chương trình “Mỗi tháng một chuyên đề nông nghiệp, nông thôn”; Ngày Hội Thanh niên nông thôn “Hoa của đất”; “Chiến dịch Mùa hè xanh” (Thành Đoàn Thành phố chủ trì);
- Phong trào “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế, phát triển sản xuất nông nghiệp (Hội Liên hiệp Phụ nữ chủ trì);
- Phong trào “Trồng cây xanh” (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố chủ trì);
- Chương trình trồng 500.000 cây xanh giai đoạn 2011 – 2015 (trồng cây xanh 2011 – 2012; chăm sóc đến năm 2015) (Thành Đoàn Thành phố chủ trì);
- Chương trình An toàn vệ sinh lao động – Phòng chống cháy nổ trong lĩnh xực nông nghiệp và ngành nghề nông thôn (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố chủ trì);
- Chương trình An toàn vệ sinh thực phẩm (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố chủ trì).
Ban Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Thường vụ Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh triển khai đến các đơn vị, bộ phận, các cơ sở Đoàn, Hội  trực thuộc thực hiện Chương trình liên tịch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có các vấn đề phát sinh, Ban Chỉ đạo sẽ họp thống nhất, bổ sung, điều chỉnh các nội dung kế hoạch thực hiện cụ thể.

Giới Thiệu Chi Cục PTNT TP.HCM

Chi cục Phát triển nông thôn

Chi cục Phát triển nông thôn là cơ quan trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, chịu sự chỉ đạo, lãnh đạo trực tiếp của Sở Nông nghiệp và PTNT; đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn của Cục Hợp tác xã và PTNT.

xem tiếp

Liên tịch

Chương Trình Liên Tịch với các Đoàn Thể :Chương trình Liên tịch về tăng cường phối hợp chặt chẽ trong sự nghiệp phát triển nông thôn:

Liên Kết web

Danh sách liên kết với các cơ quan, đơn vị liên quan, cơ quan đối tác trong nước.

GO