NÔNG THÔN MỚI Hoạt Động-Tổng Kết Hoạt Động

Kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới 6 tháng đầu năm 2016

1. Về thẩm định, công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới:
- Tổng số xã được Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định công nhận đạt chuẩn nông thôn mới đến tháng 5 năm 2016 là 54/56 xã, gồm:                           huyện Củ Chi 20/20 xã, huyện Hóc Môn 10/10 xã, huyện Bình Chánh 12/14 xã,                   huyện Nhà Bè 06/06 xã và huyện Cần Giờ 05/06 xã. Còn lại 02/56 xã chưa được công nhận đạt chuẩn: xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B thuộc huyện Bình Chánh, đạt 18/19 tiêu chí (xã Vĩnh Lộc A còn 01 tiêu chí số 19 – An ninh trật tự, xã hội chưa đạt, nguyên nhân: cán bộ Công an xã bị kỷ luật. Xã Vĩnh Lộc B còn 01 tiêu chí số 18 – Hệ thống tổ chức chính trị, xã hội vững mạnh chưa đạt, nguyên nhân: cán bộ xã bị kỷ luật).
2. Về thẩm định, công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới: 
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới năm 2015 cho 03/05 huyện trên địa bàn Thành phố, gồm: huyện Củ Chi, Nhà Bè và Hóc Môn; còn lại 02/05 huyện (Bình Chánh và Cần Giờ),      Thành phố đã hoàn chỉnh hồ sơ gửi và mời Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương xem xét, tiến hành thẩm tra hồ sơ, khảo sát thực tế, tiến tới tổ chức thẩm định, công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Ngày 28 và 29 tháng 3 năm 2016, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã tiến hành khảo sát thực tế trên địa bàn huyện Cần Giờ và huyện Bình Chánh. Kết quả cụ thể như sau:
- Đối với huyện Cần Giờ:
Đoàn Công tác phản biện liên Bộ, ngành đã vào khảo sát thực tế kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện (tập trung 04 nội dung: Quy hoạch thủy lợi, Môi trường, An ninh trật tự, xã hội và Đào tạo nghề, chuyển dịch lao động); trên cơ sở báo cáo kết quả khảo sát thực tế của Đoàn Công tác phản biện liên Bộ, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã ban hành văn bản số 238/VPĐP – KHTH ngày 29 tháng 4 năm 2016 đề nghị Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Cần Giờ tập trung khắc phục các vấn đề còn tồn tại; trong đó, tập trung xây dựng một số Đề án khắc phục hạn chế về thủy lợi, xử lý rác thải, nâng cao thu nhập và giảm nghèo trình các đơn vị liên quan thẩm định, trình Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt: Đề án “Cải tạo nâng cấp các công trình thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản theo hướng đầu tư có hệ thống kênh cấp và hệ thống tiêu thoát nước riêng biệt để bảo vệ môi trường và tránh dịch bệnh lây lan”; Đề án đầu tư “Xây dựng khu xử lý chất thải tại chỗ và giải pháp xử lý ô nhiễm, phục hồi môi trường tại khu vực chôn lấp hiện nay”; Đề án “Phát triển kinh tế - xã hội của huyện theo hướng nâng cao thu nhập, giúp người dân vươn lên thoát nghèo bền vững, trong đó chú trọng đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang  nuôi trồng thủy sản và phát triển du lịch”.
- Đối với huyện Bình Chánh:
Ban Chỉ đạo Trung ương đề nghị Ban Chỉ đạo của Thành ủy về Chương trình xây dựng nông thôn mới Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Bình Chánh xây dựng Phương án nâng cao chất lượng bảo vệ môi trường toàn huyện và thực hiện 01 xã thí điểm. Trong đó: xây dựng mô hình thí điểm xử lý rác thải hộ gia đình; xây dựng hầm Biogas trong sản xuất chăn nuôi tại khu dân cư. Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm tra phương án thực hiện; Ban Chỉ đạo của Thành ủy về Chương trình xây dựng nông thôn mới Thành phố Hồ Chí Minh có văn bản cam kết triển khai thực hiện. Tiếp theo Ban Chỉ đạo Trung ương sẽ cử Đoàn Công tác phản biện liên Bộ, ngành vào khảo sát thực tế kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện (tập trung các nội dung: Quy hoạch đô thị, Môi trường, An ninh trật tư, xã hội và phát triển sản xuất); sau khi có kết quả thống nhất của Đoàn Công tác, Ban Chỉ đạo Trung ương sẽ thành lập Hội đồng thẩm định, xét công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới đối với huyện Bình Chánh (dự kiến trong quý II năm 2016).
3. Kết quả đạt chuẩn theo nhóm tiêu chí
- Nhóm 1 (đạt 19 tiêu chí) : số xã đạt 54 (tỷ lệ 96,43%) 
- Nhóm 2 (đạt 17 đến 18 tiêu chí) : số xã đạt 02 (gồm: 02 xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B thuộc huyện Bình Chánh đạt 18/19 tiêu chí).
4. Kết quả huy động các nguồn lực thực hiện chương trình
Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới: Tổng kinh phí thực hiện đến cuối năm 2015: 41.871 tỷ 544 triệu đồng. Trong đó:
- Ngân sách Trung ương: 20 tỷ 230 triệu đồng (chiếm 0,05%)
- Ngân sách thành phố: 9.485 tỷ 246 triệu đồng (chiếm 22,65%), chia ra:
+ Vốn nông thôn mới: 5.133 tỷ 201 triệu đồng
+ Vốn lồng ghép: 4.352 tỷ 045 triệu đồng
- Vốn huy động từ cộng đồng: 32.366 tỷ 068 triệu đồng (chiếm 77,30%), chia ra:
+ Vốn dân: 7.056 tỷ 807 triệu đồng.
+ Vốn tín dụng: 24.162 tỷ 603 triệu đồng. 
+ Vốn doanh nghiệp: 1.146 tỷ 658 triệu đồng.
- Kết quả phân bổ, sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ
Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có mức điều tiết ngân sách về Trung ương trên 50%, theo quy định tại công văn 582/BNN-KTHT ngày 20 tháng 02 năm 2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thành phố  không thuộc đối tượng được phân bổ vốn trái phiếu Chính phủ thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2015.
5. Phong trào thi đua “Thành phố chung sức xây dựng nông thôn mới”.
- Nhằm hiện thực hóa phong trào thi đua “Thành phố chung sức xây dựng nông thôn mới” thực hiện Thông báo số 746-TB/TU ngày 27 tháng 3 năm 2014, về kết luận của Ban Thường vụ Thành ủy về chủ trương hỗ trợ cho các xã xây dựng nông thôn mới, tại Hội nghị Sơ kết Chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới năm 2013 và Sơ kết 02 năm thực hiện phong trào thi đua “Thành phố chung sức xây dựng nông thôn mới”, đã tổ chức lễ ký kết hỗ trợ các xã xây dựng nông thôn mới giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM, Hội Nông dân Thành phố, 19 quận, 25 Đảng ủy cấp trên cơ sở và các Tổng Công ty, Đảng ủy lực lượng vũ trang Thành phố với các huyện có các xã thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Thành phố. Ngoài ra, Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn đã hỗ trợ trước đó 500 triệu đồng thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM. Qua đó, phát huy sức mạnh tổng hợp, huy động mọi nguồn lực để chung tay xây dựng nông thôn mới. 
- Kết quả cụ thể thực hiện hợp tác “chung sức xây dựng nông thôn mới” gắn với giảm nghèo bền vững (Thực hiện theo Thông báo số 746-TB/TU ngày 27 tháng 3 năm 2014, về kết luận của Ban Thường vụ Thành ủy về chủ trương hỗ trợ cho các xã xây dựng nông thôn mới).
           Tổng số nhà tạm dột  nát được sửa chữa (678 căn) và xây mới (1.689 căn) tại 5 huyện trên địa bàn Thành phố là 2.367 căn. Tổng kinh phí thực hiện khoảng hơn 90 tỷ đồng.  Kết quả thực hiện đến tháng 9 năm 2015 như sau: 
+ Đã xóa 2.367 căn nhà tạm, dột nát (huyện Cần Giờ: 757/757 căn; huyện Nhà Bè: 288/288 căn; huyện Bình Chánh: 695/695 căn; huyện Hóc Môn: 161/161 căn; huyện Củ Chi: 466/466 căn); trong đó, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM và Hội Nông dân Thành phố thực hiện 600/600 căn, các đơn vị ký kết hỗ trợ đã thực hiện 1.767 căn. 
+ Tổng số tiền các đơn vị ký kết hỗ trợ các xã xây dựng nông thôn mới đã chuyển về các huyện để thực hiện xóa nhà tạm, dột nát và các nội dung phục vụ an sinh xã hội (học bổng, hộ nghèo,...) hơn: 98 tỷ 498 triệu đồng (bao gồm: hỗ trợ xóa nhà tạm, dột nát 90 tỷ 488 triệu đồng; hỗ trợ an sinh xã hội 08 tỷ 010 triệu đồng).
+ Sau khi hoàn thành xóa nhà tạm, dột nát, tiếp tục nghiên cứu đề xuất nội dung ký kết hỗ trợ chung sức bổ sung giai đoạn tiếp theo, tập trung thực hiện: hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ, học bổng, giảm hộ nghèo (tập trung cho huyện Cần Giờ), an sinh xã hội, hỗ trợ vật tư làm đường giao thông ngõ, tổ…
6. Kết quả đạt các tiêu chí theo quy định của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
6.1 Công tác lập quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới
a) Lập quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn mới
- Kết quả chung về triển khai xây dựng quy hoạch: Tất cả 56/56 xã đều đã hoàn thành và được phê duyệt đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới (tỷ lệ 100%).
- Đánh giá chung về kết quả thực hiện: Do đặc thù vùng nông thôn tại TP.HCM là nông thôn vùng ven đô thị đặc biệt, quy mô dân số cao và các khu quy hoạch dân cư (có xen cài khu dân cư đô thị..). Vì vậy, công tác lập các quy hoạch tiến hành hơi chậm so với kế hoạch (đến cuối năm 2014 mới cơ bản hoàn thành, đơn vị hoàn thành cuối cùng là huyện Cần Giờ). Ban Chỉ đạo của Thành ủy về CTXDNTM, UBND Thành phố đã chỉ đạo Sở Quy hoạch – Kiến trúc tiến hành kiểm tra, hướng dẫn triển khai thực hiện quy hoạch theo quy định.
b) Lập đề án xây dựng nông thôn mới
- Kết quả triển khai công tác xây dựng đề án nông thôn mới: đến cuối năm 2013, Ủy ban nhân dân thành phố đã hoàn thành phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới đối với 56/56 xã thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố.
- Đánh giá chung về kết quả thực hiện: Các xã đều đã triển khai thực hiện hoàn thành trước các tiêu chí chưa cần nhiều vốn từ ngân sách nhà nước, như phát triển sản xuất nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các tiêu chí về văn hóa - xã hội - môi trường (y tế, giáo dục, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở gắn với xây dựng nông thôn mới), phát triển củng cố hợp tác xã và hệ thống tổ chức chính trị xã hội, an ninh trật tự trên địa bàn các xã. Chính vì vậy, dù đến cuối năm 2013, Thành phố mới phê duyệt xong đề án nông thôn mới tại các xã, nhưng với tinh thần chủ động tiến công của Ban quản lý xây dựng nông thôn mới các xã đã huy động nội lực trong cộng đồng để thực hiện, từ đó nâng tỷ lệ bình quân số tiêu chí đạt chuẩn/xã đến cuối 2013 là: 13 tiêu chí, tăng 04 tiêu chí so với năm 2012.
6.2. Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân
a) Đánh giá chung về kết quả thực hiện.
a.1) Tiêu chí 10 - Thu nhập. 
- Hiện có 56/56 xã đạt tiêu chí theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới (>34 triệu đồng/người/năm). Đối với tiêu chí của Thành phố (>37 triệu đồng/người/năm), hiện có 56/56 xã đạt tiêu chí.
- Thu nhập bình quân khu vực nông thôn Thành phố - theo kết quả điều tra thu nhập hộ gia đình tại 56 xã xây dựng nông thôn mới cuối năm 2014: 39,72 triệu đồng/người/năm (#3,31 triệu đồng/người/tháng – khu vực thành thị: 4,206 triệu đồng/người/tháng). Khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn ngày càng thu hẹp qua các năm: năm 2008 - năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) – Nghị quyết 26, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn – thu nhập bình quân đầu người ở thành thị là 28,32 triệu đồng/người/năm (2,36 triệu đồng/người/tháng); cao gấp 1,8 lần so với nông thôn; đến năm 2010, cao gấp 1,5 lần và đến cuối năm 2014 chỉ còn cao gấp 1,27 lần. 
- Nếu so sánh thu nhập bình quân khu vực nông thôn thành phố năm 2008 với thời điểm hiện nay, thì: thu nhập bình quân khu vực nông thôn năm 2008 là 15,72 triệu đồng (1,31 triệu đồng/người/tháng), đạt 55,5% so với thu nhập khu vực thành thị; đến năm 2010 là 23,17 triệu đồng (1,93 triệu đồng/người/tháng), đạt 66,6% so với thu nhập khu vực thành thị và đến năm 2014, thu nhập khu vực nông thôn là 39,72 triệu đồng (3,31 triệu đồng/người/tháng), đạt 78,7% so với thu nhập khu vực thành thị. Qua đó, cho thấy thu nhập của người dân khu vực nông thôn từng bước được nâng lên rõ rệt.
Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản giai đoạn 2011 - 2015 bình quân đạt 5,8%/năm (Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố đề ra là 5%). Mở rộng diện tích sản xuất cây trồng, vật nuôi có hiệu quả cao, góp phần nâng giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đất canh tác từ 158,5 triệu/ha/năm (năm 2010) lên 325 triệu đồng/ha/năm (năm 2014). Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dần theo hướng nông nghiệp đô thị công nghệ cao. Từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung với các loại hình tổ chức sản xuất quy mô lớn, hiện đại (kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, làng nghề, doanh nghiệp...). 
a.2) Tiêu chí 11 - Hộ nghèo 
Hiện có 56/56 xã đạt tiêu chí, tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí 
Hộ nghèo.
Thành phố đẩy mạnh thực hiện các giải pháp giảm nghèo; đặc biệt ngày 14 tháng 01 năm 2014, Thành phố đã có Quyết định số 03/2014/QĐ-UBND về việc Ban hành chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo Thành phố áp dụng cho giai đoạn 2014 – 2015 và Quyết định số 04/2014/QĐ-UBND về Ban hành Chương trình Giảm nghèo, tăng hộ khá của Thành phố giai đoạn 2014 – 2015. Năm 2011, trên địa bàn 56 xã còn 51.048 hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 3 của Thành phố (<12 triệu đồng/người/năm), tỷ lệ #17%. Từ khi thực hiện đề án nông thôn mới đến nay, tại 56 xã nông thôn mới, có 45.912 hộ vượt qua chuẩn nghèo giai đoạn 3 của Thành phố. Tốc độ giảm nghèo tại các xã đều vượt chỉ tiêu Thành phố đề ra (> 4 - 5%) và Thành phố không còn hộ nghèo trong chuẩn nghèo quốc gia.
a.3) Tiêu chí 12 - Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên.
Hiện có 56/56 xã đạt tiêu chí, tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên.
Nhờ chính sách hỗ trợ vay vốn và một số chính sách khác để phát triển sản xuất, nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất, không những tạo việc làm thường xuyên cho lao động trong gia đình mà còn giải quyết thêm việc làm cho một số lao động khác.
Công tác dạy nghề, truyền nghề cho người dân đã thực sự mang lại hiệu quả cao. Ngoài hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, các ngành nghề phụ (đan đát, se nhang, làm bánh tráng, may mặc,….) đã giải quyết việc làm, giảm bớt thời gian nhàn rỗi, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn. Bên cạnh dạy nghề cho lao động nông thôn cũng chú trọng đến công tác tập huấn, tuyên truyền trong nhân dân về chương trình xây dựng nông thôn mới; phương pháp cải thiện điều kiện sống, quản lý kinh tế hộ; tuyên truyền chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị trên địa bàn Thành phố.
Từ khi thực hiện đề án nông thôn mới đến nay, đã hỗ trợ dạy nghề cho 53.569 lượt lao động; trong đó, số lao động có việc làm mới và tiếp tục làm nghề cũ đạt trên 80%. Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên đạt 94,5%, tăng 9,8% so với năm 2011 (84,7%).
a.4) Tiêu chí 13 - Hình thức tổ chức sản xuất.
Hiện có 56/56 xã đạt tiêu chí, tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Hình thức tổ chức sản xuất.
Tính đến cuối năm 2015, tại 56 xã xây dựng nông thôn mới có 69 hợp tác xã (44 hợp tác xã nông nghiệp, 25 hợp tác xã phi nông nghiệp), tăng 17 hợp tác xã so với năm 2011; 219 tổ hợp tác (175 tổ hợp tác nông nghiệp, 44 tổ hợp tác phi nông nghiệp), tăng 34 tổ hợp tác so với năm 2011. Đã phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành khảo sát, điều tra tình hình hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn TP.HCM.
b) Đánh giá chung về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển sản xuất, sự thay đổi trong 5 năm; những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.
Đánh giá chung: Qua thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại 56 xã thuộc địa bàn 5 huyện, sản xuất nông nghiệp Thành phố đã chuyển dịch đúng hướng với những mô hình về các giống cây trồng, vật nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao theo hướng nông nghiệp đô thị như: bò sữa, rau an toàn, hoa lan - cây kiểng, cá cảnh,…Sự tham gia, hỗ trợ tích cực của các hội đoàn thể nhất là Hội Nông dân đã góp phần duy trì và phát triển ngành nghề nông thôn, ngành nghề phi nông nghiệp, giải quyết lao động nông nhàn ở nông thôn. Sự chủ động của các cơ sở đào tạo nghề trong việc khảo sát nhu cầu học nghề của lao động nông thôn gắn với thị trường lao động nên ngay sau khi được đào tạo, người tham gia học nghề đã có thể kiếm được việc làm hay có thể vận dụng kiến thức được đào tạo để phát triển nghề ngay trên địa bàn mình sinh sống.
6.3. Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu
a) Kết quả thực hiện chung
- Lũy tiến thực hiện chương trình xây dựng xã nông thôn mới đến cuối năm 2015, Thành phố huy động nguồn lực xã hội đầu tư hơn 7.804 công trình, trong đó: giao thông 1.836 công trình, thủy lợi 414 công trình, điện 549 
công trình, trường học 161 công trình, cơ sở vật chất văn hóa 451 công trình, chợ 49 công trình, bưu điện 25 công trình, y tế 35 công trình,  25 công trình khác (nghĩa trang 11 công trình, trạm cấp nước 14 công trình),  nhà ở 4.259 công trình (trong đó xóa 2.797 căn nhà tạm, nhà dột nát).
Nhằm đảm bảo công tác đầu tư xây dựng cơ bản tại các xã xây dựng nông thôn mới đúng theo quy định, định kỳ hàng năm hoặc đột xuất, Liên Sở Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Thường trực Tổ Công tác giúp việc Ban Chỉ đạo tiến hành kiểm tra tình hình huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư, công tác đầu tư xây dựng cơ bản tại các xã. 
a.1) Tiêu chí 2 - Giao thông.
Hiện nay có 56/56 xã cơ bản đã đạt tiêu chí Giao thông; tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Giao thông. 
a.2) Tiêu chí 3 - Thủy lợi.
Hiện nay có 56/56 xã cơ bản đã đạt tiêu chí Thủy lợi; tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Thủy lợi.
a.3) Tiêu chí 4 - Điện.
Hiện có 56/56 xã đạt tiêu chí Điện, tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Điện.
a.4) Tiêu chí 5 - Trường học.
Hiện nay có 56/56 xã cơ bản đã đạt tiêu chí Trường học; tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Trường học. 
a.5) Tiêu chí 6 - Cơ sở vật chất văn hóa.
Hiện có 56/56 xã cơ bản đã đạt tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa; tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa.
a.6) Tiêu chí 7 - Chợ nông thôn.
Hiện có 56/56 xã đã đạt; tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Chợ nông thôn.
a.7) Tiêu chí 8 - Bưu điện.
Hiện có 56/56 xã đã đạt tiêu chí Bưu điện, tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Bưu điện.
a.8) Tiêu chí 9 - Nhà ở dân cư.
Hiện có 56/56 xã cơ bản đã đạt tiêu chí Nhà ở dân cư; tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Nhà ở dân cư.
 
b) Đánh giá chung về mức độ đạt theo quy định của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới:
tính đến nay, tất cả 56/56 xã thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã cơ bản đạt chuẩn các tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu theo quy định của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và Bộ tiêu chí về nông thôn mới theo đặc thù vùng nông thôn Thành phố. Hiện tiếp tục thực hiện duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí trên địa bàn các xã.  
Các cơ sở hạ tầng được xây dựng đã tạo điều kiện thúc đẩy giao thương, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và thu hút đầu tư trong cộng đồng. Qua quá trình triển khai, có thể đúc kết bước đầu về cơ chế huy động vốn đối với nguồn vốn hỗ trợ một phần từ ngân sách Thành phố, tùy theo đặc thù các nội dung cụ thể, mức hỗ trợ từ ngân sách Thành phố đã tạo được sự đồng thuận cao và hưởng ứng của nhân dân.
 
4. Về phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường
a) Kết quả thực hiện chung
a.1) Tiêu chí 14 - Giáo dục. 
- Hiện có 56/56 xã đạt tiêu chí Giáo dục, tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Giáo dục. 
- Thành phố đã bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, bước đầu đạt được một số kết quả thiết thực. Đã thực hiện thí điểm thành công một số mô hình dạy nghề có hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp (làm muối trải bạt, trồng hoa lan, nuôi bò sữa,…) và các ngành nghề nông thôn làm cơ sở để triển khai nhân rộng; số lao động nông thôn được học nghề ngày càng tăng. Ban hành các kế hoạch, đề án triển khai hoạt động hỗ trợ lao động nông thôn học nghề theo các chính sách của Chính phủ như: Thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong lĩnh vực nông nghiệp và ngành nghề nông thôn tại các xã xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Thành phố đến năm 2015, định hướng 2020”, Đề án đào tạo nghề phi nông nghiệp cho lao động nông thôn nhằm nâng cao tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề, gắn với việc phát triển nông nghiệp thành phố theo hướng nông nghiệp đô thị hiện đại và giúp cho một bộ phận nông dân nông thôn chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ theo yêu cầu phát triển chung của Thành phố. Tính từ khi thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới đến nay, Thành phố đã hỗ trợ dạy nghề cho 53.569 lượt lao động; trong đó, số lao động có việc làm mới và tiếp tục làm nghề cũ đạt trên 80%. Tổng kinh phí thành phố hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2011-2014 là 25,67 tỷ đồng.
- Các huyện đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động học sinh bỏ học các năm trước ra lớp nên đã duy trì khá tốt các chuẩn phổ cập giáo dục các bậc học. Được sự quan tâm hỗ trợ của phụ huynh học sinh, đặc biệt là các ban, ngành, đoàn thể đã trợ cấp học bổng cho học sinh nghèo, học sinh có điều kiện kinh tế khó khăn, nên các học sinh này có điều kiện học tập tốt hơn. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy, cung cấp và sử dụng tốt trang thiết bị dạy học hiện đại tại các trường mới xây trên các xã xây dựng nông thôn mới đã giúp nâng cao chất lượng giáo dục.
a.2) Tiêu chí 15 - Y tế. 
- Hiện có 56/56 xã đạt tiêu chí, tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Y tế.
- Mạng lưới y tế đã phủ kín tất cả các xã trên địa bàn Thành phố và nhanh chóng mở rộng đến ấp. Đặc biệt, bệnh viện huyện Củ Chi ở cửa ngõ Tây Bắc của Thành phố đã được phát triển thành bệnh viện đa khoa khu vực, hiện nay không chỉ khám và chữa bệnh cho nhân dân địa phương mà còn phục vụ nhân dân các tỉnh lân cận.
- Trong 5 năm qua, đã củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở. Bằng biện pháp tuyên truyền vận động, kết hợp với mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo bằng nguồn ngân sách Thành phố. Bên cạnh đó, mỗi năm Thành phố dành khoảng 2 tỷ đồng/trạm y tế xã từ nguồn ngân sách Thành phố cấp cho quỹ hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo (Quỹ do Sở Y tế quản lý) thực hiện xét nghiệm cơ bản, khám chữa bệnh, chạy thận.... Các huyện đã thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe, công tác tăng dân số, kế hoạch hóa gia đình, phòng chống dịch bệnh cho người dân.
- Số người tham gia các hình thức bảo hiểm y tế tại các xã chiếm tỷ lệ hơn 70% dân số các xã, tăng 22% so với năm 2010.
a.3) Tiêu chí 16 - Văn hóa. 
- Hiện có 56/56 xã đạt tiêu chí, tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Văn hóa.
- Mỗi năm có đến 95% hộ nông dân được công nhận gia đình nông dân văn hoá. Tiến hành xây dựng tổ nhân dân, tổ dân phố kiểu mẫu, xây dựng phòng, góc truyền thống. Công tác quản lý Nhà nước về Văn hóa thể dục thể thao tiếp tục được chú trọng; việc rà soát, thống kê các loại hình hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa luôn được quan tâm.
- Trong 5 năm, có 451 công trình cơ sở vật chất văn hóa được xây dựng. Tại các xã cơ bản có Trung tâm Văn hóa – Thể thao xã hoặc cụm xã đạt chuẩn; tại các ấp đều xây dựng Văn phòng ấp kết hợp với Tụ điểm Văn hóa – được xây dựng kết hợp với nguồn vốn cộng đồng đóng góp; 100% công trình Thể thao đạt chuẩn tại các ấp đều bằng nguồn vốn xã hội hóa. Hàng năm, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch (nay là Sở Văn hóa và Thể thao) đều đã vận động, trao tặng trang thiết bị thể thao văn hóa cho các xã.
a.4) Tiêu chí 17 - Môi trường. 
- Hiện có 56/56 xã cơ bản đạt tiêu chí, tiếp tục duy trì và nâng chất tiêu chí Môi trường.
- Thực hiện các chương trình, dự án về nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, vận động đăng ký thu gom rác. Thường xuyên kiểm tra, giám sát về môi trường, thực hiện kiên quyết việc di dời và không bố trí các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất các ngành nghề gây ô nhiễm môi trường nằm xen cài trong khu dân cư.
b) Đánh giá chung về mức độ đạt theo quy định của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới:
          Đến nay, đã có 54/56 xã thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cơ bản đạt chuẩn các tiêu chí về phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường theo quy định của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và Bộ tiêu chí về nông thôn mới theo đặc thù vùng nông thôn Thành phố; chỉ còn lại 02/56 xã (Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B – huyện Bình Chánh) chưa đạt chuẩn 02 tiêu chí theo quy định. Nguyên nhân chưa đạt chuẩn: 
- Tiêu chí 16 - Văn hóa: xã chưa đạt chỉ tiêu 70% số ấp đạt chuẩn ấp văn hóa 02 năm liền.
- Tiêu chí 17 – Môi trường: chủ yếu do hệ thống xử lý nước thải tại các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn các xã chưa đạt; vệ sinh đường phố, cảnh quan môi trường chưa đạt. 
Hiện nay, Ban Chỉ đạo Thành phố và các huyện đã có kế hoạch đẩy mạnh tập trung thực hiện để 02 xã sớm đạt chuẩn 02 tiêu chí còn lại; đồng thời thực hiện duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí đã đạt chuẩn. 
c) Đánh giá chung về kết quả thực hiện 
- Nhân dân trên địa bàn các xã xây dựng nông thôn mới đã nâng cao ý thức về chấp hành pháp luật, tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp, tham gia các phong trào thi đua yêu nước. 
- Công tác tuyên truyền ngày càng được đầu tư nâng chất, góp phần đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân địa phương.
- Các hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, lễ hội, đình làng dần được khôi phục ngày một đáp ứng nhu cầu nhân dân.
Bên cạnh đó, cũng còn một số hạn chế như:  Các hoạt động văn hóa, xã hội phần lớn mang tính chất lễ hội, chưa thật sự trở thành phong trào thường xuyên, đến từng hộ dân, từng người lao động; Công tác tuyên truyền, tổ chức các hoạt động, vận động người dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường từng bước đã mang lại hiệu quả, tuy nhiên có nơi có lúc vẫn còn hạn chế, chưa thực sự trở thành hoạt động thường xuyên trong cộng đồng về tham gia bảo vệ môi trường.
5. Về xây dựng hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và giữ gìn an ninh, trật tự xã hội
a) Kết quả thực hiện các nội dung về hệ thống tổ chức chính trị xã hội
a.1) Tiêu chí 18 - Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh.
Hiện có 55/56 xã cơ bản đạt chuẩn tiêu chí Hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh; còn lại 01 xã (Vĩnh Lộc B – huyện Bình Chánh) chưa đạt. Nguyên nhân: cán bộ xã bị kỷ luật.
Sở Nội vụ Thành phố đã rà soát tình hình về số lượng, chất lượng cán bộ, công chức các xã theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, về ban hành tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ Nội vụ, hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn. Hằng năm, Sở Nội vụ triển khai thực hiện Kế hoạch đào tạo cán bộ công chức theo quy định.
Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và công tác vận động nhân dân tiếp tục có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả nhất định; đã kịp thời triển khai nội dung các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Thành phố, tập trung tổ chức nhiều đợt sinh hoạt sâu rộng trong toàn Đảng bộ; chất lượng hoạt động của mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội từ huyện đến cơ sở tiếp tục được nâng cao, công tác phối hợp thực hiện tốt, đẩy mạnh công tác tuyên truyền với trọng tâm hướng về cơ sở; tạo điều kiện cho cán bộ công chức xã nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
Các huyện thường xuyên xây dựng kế hoạch chỉ đạo, củng cố, nâng cao chất lượng và vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo Chỉ thị số 10-CT/TW của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 09-HD/TW của Ban Tổ chức Trung ương, trong sinh hoạt định kỳ chi bộ có kiểm điểm đánh giá việc thực hiện kết quả đạt được và những mặt hạn chế trong xây dựng nông thôn mới gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Dự kiến 01 xã Vĩnh Lộc B – huyện Bình Chánh đạt chuẩn tiêu chí trong năm 2016.
a.2) Tiêu chí 19 - An ninh, trật tự xã hội. 
Hiện có 55/56 xã cơ bản đạt chuẩn tiêu chí An ninh, trật tự xã hội, còn lại 01 xã (Vĩnh Lộc A – huyện Bình Chánh) chưa đạt. Nguyên nhân: cán bộ Công an xã bị kỷ luật.
Công an Thành phố đã chỉ đạo các Phòng nghiệp vụ và Công an các huyện có trách nhiệm triển khai, tham mưu cho cấp ủy về chỉ đạo thực hiện “Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn”. Đặc biệt, Công an Thành phố đã cụ thể tiêu chí 19 thành 3 chỉ tiêu cụ thể, để chỉ đạo triển khai và định kỳ đánh giá kết quả thực hiện.
Công an các huyện, các xã tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các biện pháp phòng, chống tội phạm như: tập trung thực hiện các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm; kiểm tra hành chính các tuyến, các địa bàn phức tạp có nhiều nhà trọ, nhà cho thuê; phát động mạnh mẽ phong trào quần chúng tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc.
Nhờ làm tốt công tác vận động, tuyên truyền nên tình hình an ninh chính trị được giữ vững, công tác phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; tăng cường tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân phát hiện tố giác tội phạm và cùng tham gia tấn công tội phạm nhằm 
khống chế sự gia tăng của tội phạm, giáo dục ý thức cảnh giác cho cán bộ, nhân dân trước âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch; đồng thời mở các đợt cao điểm tấn công trấn áp các loại tội phạm nhằm bảo vệ an ninh trật tự an toàn xã hội; thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy, tổ chức tuần tra giao thông trên địa bàn để góp phần kéo giảm tai nạn giao thông; thực hiện tuần tra khép kín trên địa bàn, phân công lực lượng bảo vệ các điểm vui chơi, giải trí vào các dịp lễ, tết.
- Dự kiến 01 xã Vĩnh Lộc A – huyện Bình Chánh đạt chuẩn tiêu chí trong năm 2016.
b) Đánh giá chung về mức độ đạt theo quy định của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới: tất cả 56/56 xã thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã cơ bản đạt chuẩn các tiêu chí xây dựng hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và giữ gìn an ninh, trật tự xã hội theo quy định của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và Bộ tiêu chí về nông thôn mới theo đặc thù vùng nông thôn Thành phố. Hiện tiếp tục thực hiện duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí trên địa bàn các xã.
Đảng ủy các xã đã lãnh đạo cả hệ thống chính trị cụ thể hóa các nội dung xây dựng nông thôn mới thành chương trình hành động của tổ chức mình và thực hiện đạt hiệu quả. 
Các chi bộ, đảng viên, cán bộ trên địa bàn các xã đã phát huy được vai trò nòng cốt, lãnh đạo việc thực hiện nhiệm vụ cơ quan, đơn vị với mục tiêu xây dựng nông thôn mới.
Đội ngũ cán bộ xã được trẻ hóa, có trình độ, năng lực, năng động trong công tác, tạo bước chuyển biến tích cực cho địa phương.
 

Giới Thiệu Chi Cục PTNT TP.HCM

Chi cục Phát triển nông thôn

Chi cục Phát triển nông thôn là cơ quan trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, chịu sự chỉ đạo, lãnh đạo trực tiếp của Sở Nông nghiệp và PTNT; đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn của Cục Hợp tác xã và PTNT.

xem tiếp

Liên tịch

Chương Trình Liên Tịch với các Đoàn Thể :Chương trình Liên tịch về tăng cường phối hợp chặt chẽ trong sự nghiệp phát triển nông thôn:

Liên Kết web

Danh sách liên kết với các cơ quan, đơn vị liên quan, cơ quan đối tác trong nước.

GO