NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN Đề Tài - Dự Án

Mô hình sản xuất muối sạch theo phương pháp kết tinh trên nền ruộng trải bạt

Về cơ bản các giai đoạn sản xuất muối theo phương pháp trải bạt giống với phương pháp truyền thống, chỉ khác ở ô kết tinh là có lót bạt nhựa để kết tinh muối. Sản xuất theo phương này cho năng suất và chất lượng muối cao hơn, giá thành cũng như giá bán đầu ra cao hơn.

Do đặc thù của thành phố Hồ Chí Minh (huyện Cần Giờ) là nền đất yếu nên không thể đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc trên đồng ruộng muối; ngoài ra độ sạch của nước biển tại huyện Cần Giờ nhiều tạp chất so với một số vùng sản xuất muối duyên hải miền Trung. Do đó, phương pháp sản xuất muối kết tinh trên ruộng trải bạt là phương pháp sản xuất muối sạch phù hợp với đặc thù tại thành phố Hồ Chí Minh (huyện Cần Giờ).
I. QUY TRÌNH THỰC HIỆN MÔ HÌNH SẢN XUẤT:
1. Sơ đồ quy trình sản xuất:


 
2. Thuyết minh quy trình thực hiện mô hình sản xuất:
Khi thủy triều lên, nước biển được đưa vào hồ chứa qua cống đầu mối và hệ thống mương dẫn cấp nước, hoặc tới trạm bơm để  bơm vào hồ chứa. Sau đó nước biển được đưa vào hệ thống các ô bốc hơi. Qua quá trình phơi nắng, tỷ trọng nước biển tăng dần lên, cuối cùng nước biển đạt tới nồng độ bão hòa NaCl (nước chạt).
Nước chạt sau đó được đưa qua hệ thống lắng lọc tự nhiên bằng phương pháp vật lý để loại bỏ tạp chất không tan trước khi được đưa tới hệ thống ô kết tinh. 
Trên bề mặt nền ô kết tinh, dùng tấm bạt nhựa trải đều để phơi nước chạt và kết tinh muối. Lưu ý, mặt tối (màu đen) của bạt phải được đặt lên trên để hấp thụ nhiệt của mặt trời tốt nhất. 
Căn cứ vào điều kiện khí hậu (nhiệt độ nắng nóng), người ta khống chế độ sâu của mực nước chạt đưa vào ô kết tinh và khống chế thời điểm dừng thu muối để thu hoạch muối có chất lượng cao.
Muối sau khi kết tinh đạt tiêu chuẩn muối sạch sẽ được thu gom, đánh đống, vận chuyển vào kho dự trữ bảo quản. Lưu ý sử dụng cào phải có lớp đệm cao su ở phần lưỡi cào để tránh hư hỏng bạt nhựa.
II. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN
1. Bố trí diện tích và tỷ lệ (theo quy mô 10.000 m2):
- Diện tích ô bốc hơi chiếm tỉ lệ 85%; ô kết tinh chiếm 15%, cụ thể tỷ lệ như sau:

- Ô bốc hơi nước gồm 7 ô, tổng diện tích 8.500 m2;
- Ô kết tinh 1.500 m2, được chia thành các ô nhỏ. Tổng diện tích ô kết tinh trải bạt nhựa là 1.500 m2.
2. Các bước thực hiện trong quy trình kết tinh muối:
2.1. Bước 1: 
Từ nguồn nước biển cung cấp theo kênh cấp 1 vào hồ chứa. Nguyên liệu nước biển đầu vào có hàm lượng NaCl khoảng 230g/l, nồng độ (độ mặn): 10Be.
2.2. Bước 2:
Nước biển được bơm từ hồ chứa vào ô số 1 bằng máy bơm.
-Độ cao mực nước: 0,5 m;
-Nồng độ sau khi phơi nắng 1 ngày là 30Be.
2.3. Bước 3: 
Nước biển được dẫn từ ô số 1 sang ô số 2 bằng 2 ống dẫn nước Φ150 có van đóng mở hoặc bằng xa quạt.
-Độ cao mực nước: 0,2 m;
-Nồng độ sau khi phơi nắng 1 ngày là 60Be.
2.4. Bước 4: 
Nước biển được dẫn từ ô số 2 sang ô số 3 bằng 2 ống dẫn nước Φ150 có van đóng mở hoặc bằng xa quạt.
-Độ cao mực nước: 0,1 m;
-Nồng độ sau khi phơi nắng 1 ngày là 90Be.
2.5. Bước 5: 
Nước biển được dẫn từ ô số 3 sang ô số 4 bằng 2 ống dẫn nước Φ150 có van đóng mở hoặc bằng xa quạt.
-Độ cao mực nước: 0,07 m;
-Nồng độ sau khi phơi nắng 1 ngày là 130Be.
2.6. Bước 6: 
Nước biển được dẫn từ ô số 4 sang ô số 5 bằng 2 ống dẫn nước Φ150 có van đóng mở hoặc bằng xa quạt.
-Độ cao mực nước: 0,05 m;
-Nồng độ sau khi phơi nắng 1 ngày là 180Be.
2.7. Bước 7: 
Nước biển được dẫn từ ô số 5 sang ô số 6 bằng 2 ống dẫn nước Φ150 có van đóng mở hoặc bằng xa quạt.
-Độ cao mực nước: 0,05 m;
-Nồng độ sau khi phơi nắng 1 ngày là 230Be.
 2.8. Bước 8: 
Nước biển được dẫntừ ô số 6 sang ô số 7 qua 2 ống dẫn Φ150 có van đóng mở hoặc bằng xa quạt. 
-Độ cao mực nước: 0,05 m;
-Nồng độ sau khi phơi nắng 1 ngày là 250Be.
2.9. Bước 9: 
Nước biển từ ô số 7 được dẫn qua 2 thùng phi nhựa để lắng lọc tạp chất  trước khi được dẫn vào hệ thống ô kết tinh trải bạt nhựa bằng 2 ống dẫn Φ150 có van đóng mở hoặc bằng xa quạt. 
-Hệ thống ô kết tinh trải bạt nhựa;
-Thời gian kết tinh 3 ngày;
-Chế độ kết tinh tĩnh.
2.10.  Bước 10:
Thu hoạch sản phẩm, chuyển vào kho bảo quản.
Lưu ý: Dùng cào có lớp đệm cao su để tránh rách bạt nhựa.
3. Các bước thực hiện trong quy trình sản xuất muối sạch theo phương pháp kết tinh trên nền ruộng trải bạt:
3.1. Bước 1: 
- Chuẩn bị đất.
- Mặt đất phải bằng phẳng, cứng, không còn nước đọng lại trên nền đất.

3.2. Bước 2:
Sau khi đất đã chuẩn bị xong:
- Bạt nhựa được đem xuống ruộng muối.
- Chiều dài mỗi cuộn bạt được cắt theo chiều dài của ruộng muối. 
- Chiều ngang 1,2 mét. 
3.3. Bước 3: 
Thực hiện quá trình trải bạt nhựa:
- Trải bạt nhựa phải bao phủ bờ ruộng muối.
- Khi chuẩn bị ruộng muối mỗi ô vuông muối hình chữ nhật thì tốt, không nên là hình thang.
  3.4. Bước 4: 
- Cuộn bạt được trải dài theo chiều dài của ruộng muối.
- Không nên để cho nhiều người xuống ruộng muối sau khi đã chuẩn bị xong.

3.5. Bước 5: 
-Thực hiện tiếp việc trải bạt và tiến hành dán 2 tấm bạt lại với nhau.
 3.6. Bước 6: 
 Pha keo dán:
- Dùng keo AU 5199.
- Sylen (dung môi để pha keo).
- Tỷ lệ: 1kg – 250g.
- Keo và dung môi được trộn lẫn với nhau và được khuấy bằng que. 

3.7. Bước 7: 
- Thực hiện quá trình dán keo lên 2 mép của bạt nhựa.
- 02 mép dán keo có chiều rộng tối đa là 3 cm. 
- Dùng cọ để quét keo lên 2 mặt của bạt nhựa. 
- Thời gian sau khi quét keo là 10 – 15 phút rồi mới dán 2 tấm bạt nhựa lại với nhau.

3.8. Bước 8: 
-Tiếp tục trải bạt nhựa cho đến hết nền ruộng muối.
-Kiểm tra và dán keo những chỗ còn sai sót.

3.9. Bước 9: 
-Dùng thanh tre mỏng để giữ chặt bạt nhựa với bờ ruộng.
-Khoảng cách giữa những thanh tre phải đều nhau.
3.10.Bước 10:
-Dùng keo dán chặt ống dẫn nước và bạt nhựa lại với nhau.
-Gắn mạng lưới bằng sợi thủy tinh để lọc nước.
3.11.Bước 11:
-Đưa nước muối vào ruộng kết tinh.
-Nước muối trước khi đưa vào ruộng muối trải bạt phải đạt ít nhất là 20 chữ.
3.12.Bước 12:
-Nước muối chảy lan vào từng góc của ruộng muối, do đó đẩy không khí còn ở dưới tấm bạt dồn vào giữa. 
-Cần dùng bàn cào để để đẩy lớp không khí dưới tấm bạt ra ngoài.

3.13.Bước 13:
-Phơi nắng và đợi muối kết tinh.
-Thu hoạch muối.
4. Những điểm cần lưu ý:
Trong thực tế người ta dừng thu muối loại I ở nồng độ nước chạt là 28,8-290Be và dừng thu muối loại II ở nồng độ 320Be vì từ 26 tới 30,20Be đã có tới khoảng 80% NaCl được tách ra thành muối, sau đó tiếp tục phơi nữa thì NaCl tách ra rất chậm, số lượng không đáng kể (chỉ thêm khoảng 0,9%). 
-Hệ thống ô kết tinh: phải đảm bảo độ phẳng, độ chặt, độ bền và màu nền tối.
-Nồng độ nước chạt: đưa vào hệ thống ô kết tinh phải đạt 250Be, có thể thấp hơn nhưng tối thiểu phải đạt 230Be.
-Nồng độ nước biển dừng thu muối: (nước ót) không nên quá 300Be
-Lượng nước kết tinh: tùy theo thời tiết, tốt thì phơi dày, khộng thuận lợi thì phơi mỏng. Nếu thời tiết tốt hơn dự đoán có thể châm thêm vào buổi sáng để không ảnh hưởng đến tốc độ bay hơi.
-Nước ót: là nước còn lại sau khi thu muối, trong đó có chứa nhiều tạp chất không nên sử dụng nhiều (dưới 30%) để hòa trộn nước ót với nước chạt làm tăng nhanh độ mặn sẽ làm giảm chất lượng muối, muối dễ bị chảy rửa.
-Những lưu ý khác:
+Thời tiết nắng tốt, muối kết tinh nhanh.
+Thời gian đưa nước vào ô kết tinh nên vào buổi sáng ngày thứ nhất và thu muối vào cuối buổi chiều ngày thứ ba. Đối với thời tiết xấu, thời gian thu muối có thể kéo dài hơn. Khoảng 5-6 ngày phơi nắng mới thu được muối.
+ Khi kết tinh không để quá cạn nước làm lộ đầu muối, sẽ làm chất lượng muối kém.
+ Nước ót là nước còn lại sau khi thu muối, trong đó có chứa nhiều tạp chất không nên sử dụng nhiều (dưới 30%) để hòa trộn nước ót với nước chạt làm tăng nhanh độ mặn sẽ làm giảm chất lượng muối, muối dễ bị chảy rửa.
+ Thường xuyên giữ gìn và đảm bảo môi trường xung quanh hệ thống ô kết tinh sạch sẽ, tránh để bụi, cát, đất rơi vào. Trước khi bước chân vào ô kết tinh phải rửa chân sạch sẽ.
+ Buổi sáng trước khi cấp nước vào ô kết tinh, phải làm sạch ô kết tinh, không để bùn, cát, rác cỏ… rơi vào; phải làm sạch nước ót còn lại trên mặt ô.
+ Sau khi thu hoạch muối sạch phải được vận chuyển vào kho bảo quản có mái che; kho phải có kết cấu nền dốc để thoát nước ra ngoài, nền kho không tiếp xúc trực tiếp với đất mà thường lót phên nứa hoặc các vật liệu phi kim loại, xung quanh kho phải có mương thoát nước.
III. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH SẢN XUẤT MUỐI SẠCH THEO PHƯƠNG PHÁP KẾT TINH TRÊN NỀN RUỘNG TRẢI BẠT
1. Năng suất, chất lượng:
1.1. Thực nghiệm trên một mô hình:
* Thời gian thực hiện mô hình: 32 ngày. Gồm: 
- Thời gian đắp bờ, phân khuôn, chạy nước cho bốc thoát hơi, trải bạt: 10 ngày.
- Thời gian kết tinh cho 3 đợt tổng cộng 22 ngày gồm:
+ Đợt 1: 9 ngày, sản lượng thu 2.900 kg.
+ Đợt 2: 6 ngày, sản lượng thu : 1.860 kg
+ Đợt 3: 7 ngày, sản lượng thu: 2.240 kg
Tổng cộng sản lượng muối thu: 7.000 kg
* Nhận xét: Sản lượng bình quân trên 1m2/ ngày cho các đợt như sau:
- Đợt 1: 1,07 kg/m2, ngày
- Đợt 2: 1,03 kg/m2, ngày
- Đợt 3: 1,07 kg/m, ngày
Năng suất thu hoạch của cả 3 đợt xấp xỉ nhau
- Sản lượng bình quân chung của cả 3 đợt: 1,06 kg/m2, ngày
- So sánh với năng suất bình quân trên ruộng kết tinh không trải bạt của hộ ông Võ Văn Bình là 0,6 kg/m2, ngày cho thấy:

Nhận xét: 
-Việc trải bạt làm tăng nhanh, rõ rệt năng suất kết tinh là do bạt có màu đen, hấp thụ mạnh năng lượng bức xạ mặt trời.
-Trên cùng một diện tích, cùng điều kiện sản xuất như nhau nếu áp dụng công nghệ trải bạt ô kết tinh thì năng suất tăng 1,76 lần.
-Trên cùng một sản lượng, điều kiện sản xuất như nhau nếu áp dụng công nghệ trải bạt ô kết tinh, diện tích ô kết tinh thực tế sử dụng sẽ giảm khoảng 40% so với không trải bạt.
1.2.Sản xuất trong niên vụ muối 2013-2014:
Trong niên vụ muối 2013-2014, diện tích sản xuất muối đất tại huyện Cần Giờ đạt 757,3 ha, sản lượng đạt 44.472 tấn, cho năng suất bình quân 58,7 tấn/ha/vụ. Trong khi đó, diện tích sản xuất muối bạt đạt 909,6 ha, sản lượng đạt 67.350 tấn, cho năng suất bình quân 74 tấn/vụ, tăng hơn 15,3 tấn/vụ và gấp 1,26 lần so với phương pháp muối đất.
Như vậy, sản xuất muối theo phương pháp trải bạt trên nền ruộng kết tinh góp phần tăng năng suất từ 1,2-1,7 lần so với phương pháp truyền thống.
2. Chất lượng muối:
Theo kết quả phân tích tại Trung tâm Đào tạo và phát triển Sắc Ký thành phố Hồ Chí Minh, (số liệu trong bảng cột 4) để so sánh với số liệu về chất lượng muối của hộ ông Võ Văn Bình theo công nghệ kết tinh trên nền đất.
Chất lượng muối thí nghiệm trải bạt và muối không trải bạt
Nhận xét: Chất lượng muối trải bạt vượt trội so với chất lượng muối thô sản xuất theo phương pháp truyền thống. Đặc biệt muối có độ trắng cao, sạch hơn và có độ mặn nhiều hơn, thể hiện qua chỉ tiêu tạp chất không tan hết sức nhỏ, và hàm lượng NaCl cao hơn.  
3.Hiệu quả kinh tế của mô hình:
3.1.Chi phí cố định trong sản xuất muối:
So sánh chi phí cố định giữa sản xuất muối đất và muối trải bạt (đồng/ha/năm)

Chi phí đầu tư vốn cố định (đã tính khấu hao): giữa 2 phương pháp sản xuất muối có sự khác biệt, nếu như chi phí đầu tư vốn cố định sản xuất muối theo phương pháp muối đất là 3.800.000 đồng/vụ, thì chi phí sản xuất muối theo phương pháp muối bạt là 14.300.000 đồng/vụ, cao hơn 10.500.000 đồng và gấp 3,76 lần so với phương pháp muối đất.
Chi phí đầu tư cố định ban đầu cho sản xuất muối bạt cao hơn nhiều so với muối đất, do phải đầu tư bạt nhựa. Vì vậy, còn nhiều hộ diêm dân chưa có khả năng chuyển từ sản xuất muối đất sang muối bạt (đặc biệt là các hộ nghèo) mặc dù nhận rõ được hiệu quả của mô hình muối bạt.
3.2. Chi phí lưu động hàng năm trong sản xuất muối:
So sánh chi phí lưu động hàng năm giữa sản xuất muối đất và muối trải bạt (đồng/ha/năm):

Sản xuất muối theo phương pháp truyền thống, từ khi cải tạo đồng muối đến khi có sản phẩm phải mất từ 15-20 ngày, thì sản xuất muối trải bạt chỉ mất khoảng từ 7-10 ngày là có muối cào. Nguyên nhân là do làm muối theo phương pháp trải bạt, việc trải bạt đã giúp lao động sản xuất muối giảm rất nhiều công sức và thời gian cho việc cải tạo đất (đầm đất), trong khi công việc đầm đất để sản xuất muối theo phương pháp truyền thống cần rất nhiều thời gian, công sức bỏ ra. Do đó, đối với việc sản xuất muối theo phương pháp trải bạt sẽ giảm bớt được 0,5 người/ha so với phương pháp truyền thống. Vì vậy, chi phí lưu động trong sản xuất muối bạt thấp hơn muối đất.
3.3. Tổng chi phí sản xuất:
Bảng hạch toán chi phí, doanh thu, lợi nhuận của sản xuất muối (01 ha/năm)

-Về chi phí sản xuất: tổng chi phí sản xuất muối tính bình quân cho 1 vụ muối ở hai phương pháp sản xuất có sự chênh lệch ở mức 8%, tương ứng 4.300.000 đồng/vụ. 
-Về giá thành: có sự khác biệt giữa 2 phương pháp, muối đất giá bình quân khoảng 913,6 đồng/kg, trong khi đó muối bạt giá bình quân khoảng 783 đồng/kg, thấp hơn 130,6 đồng/kg. Có sự chênh lệch là do khác biệt ở chi phí lao động và năng suất muối.
-Về giá bán: có sự chênh lệch giữa hai loại muối sản xuất theo hai phương pháp, giá muối bạt cao hơn muối đất bình quân 1,08 lần do chất lượng muối theo phương pháp trải bạt tốt hơn (trắng hơn, tỷ lệ tạp chất thấp hơn).
-Về hiệu quả sản xuất: có sự khác biệt giữa 2 phương pháp sản xuất muối. Nếu như thu nhập (trừ chi phí, cộng công lao động nhà) bình quân 1 ha muối đất là 17.594.500 đồng/ha, thì ở phương pháp muối bạt 1 ha muối cho thu nhập là 43.229.500 đồng/ha, cao hơn 25.635.000 đồng/ha và gấp 2,46 lần. Lợi nhuận 1 ha muối đất là 16.807.000 đồng, thì sản xuất theo phương pháp muối bạt là 38.267.000 đồng/ha, gấp 2,28 lần so với phương pháp sản xuất muối đất (phương pháp truyền thống).
-Các chỉ tiêu về hiệu quả tài chính: các tỷ suất về doanh thu/chi phí; lợi nhuận/chi phí; thu nhập/chi phí: phương pháp muối bạt đều có hiệu quả cao hơn phương pháp muối đất.
 



 

 

Giới Thiệu Chi Cục PTNT TP.HCM

Chi cục Phát triển nông thôn

Chi cục Phát triển nông thôn là cơ quan trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, chịu sự chỉ đạo, lãnh đạo trực tiếp của Sở Nông nghiệp và PTNT; đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn của Cục Hợp tác xã và PTNT.

xem tiếp

Liên tịch

Chương Trình Liên Tịch với các Đoàn Thể :Chương trình Liên tịch về tăng cường phối hợp chặt chẽ trong sự nghiệp phát triển nông thôn:

Liên Kết web

Danh sách liên kết với các cơ quan, đơn vị liên quan, cơ quan đối tác trong nước.

GO